Cây má đề chữa đái dắt

Dưới đây, xin giới thiệu một số bài thuốc Đông y chữa chứng đái dắt khi cơ thể bị nhiệt, chức năng thận yếu hoặc hỗ trợ điều trị khi mắc các bệnh nhiễm khuẩn, viêm đường tiết niệu,…
Đông y chữa đái dắt
Đái dắt là hiện tượng đi đái nhiều lần trong một ngày nhưng lượng nước tiểu ít và thường có màu vàng đục gây khó chịu cho người bệnh. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đái dắt, trong đó chủ yếu như: chức năng thận yếu, nhiễm khuẩn nước tiểu, viêm đường tiết niệu, cơ thể bị nhiệt vào mùa nóng… Dưới đây, xin giới thiệu một số bài thuốc Đông y chữa
chứng đái dắt thông thường khi cơ thể bị nhiệt, chức năng thận yếu hoặc hỗ trợ điều trị khi mắc các bệnh nhiễm khuẩn, viêm đường tiết niệu, các bệnh về thận có triệu chứng đái dắt:
Bài 1: Rễ cỏ tranh, râu ngô, bông mã đề, củ sả, đậu đen, lượng bằng nhau, tất cả rửa sạch, phơi khô, sắc uống ngày 2 – 3 lần. Dùng trong 1 tuần.
Bài 2: Bồ công anh, mã đề, rau má, râu ngô, cam thảo dây, mía dò, rễ cỏ tranh, lượng bằng nhau, sắc uống ngày 2 – 3 lần. Dùng trong 1 tuần.
Bài 3: Lấy 20 mề gà, lột lấy da vàng trong mề gà, rang cho cháy và tán nhỏ mịn, chia làm 4 lần để uống. Mỗi ngày uống vài lần với nước sôi để nguội. Ngoài ra cần ăn thêm các loại hoa quả như chanh, cam hoặc đậu xanh nấu, trứng gà tươi. Kiêng ăn các loại cay nóng như ớt, hạt tiêu…
Bài 4: Lấy một miếng bí xanh to bằng cái bát con, gọt bỏ vỏ ngoài, giã vắt lấy nước và hoà thêm chút muối để uống, hoặc gọt vỏ ăn sống, hoặc luộc bí xanh ăn và uống cả nước. Dùng trong 10 ngày.
Bài 5: Lấy củ sắn dây cạo sạch vỏ, thái ra từng miếng phơi khô, đem sấy cho giòn. Sau đó giã nhỏ, đem rây thật mịn và hoà với đường uống. Dùng trong 10 ngày.
Bài 6: Bầu đất 30g, mã đề 20g, râu ngô 20g. Sắc uống ngày một thang. Dùng 7 – 10 ngày.
Cây má đề

Bài 7: Búp tre, rau má, mỗi thứ 20g, để tươi, rửa sạch, giã nát với vài hạt muối, thêm nước gạn uống ngày 2 lần. Uống 1 tuần.
Bài 8: Hoa súng 15g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 10g, rau má 10g, rau diếp cá 10g. Sắc lấy nước uống 2 lần trong ngày.
Bài 9: Kim anh tử 1,5kg, đường trắng vừa đủ dùng. Cách chế: Kim anh tử rửa sạch, nấu thành cao, cho thêm đường trắng, trộn đều, chữa chứng đái dắt ở trẻ em. Mỗi lần uống 1 thìa canh, ngày 2 lần.
Bài 10: Lá bìm bìm, lá mảnh cộng, dùng tươi, lượng bằng nhau 50g, săc uống. Dùng 7 – 10 ngày.
Theo Bác sĩ Thu Vân
SK&ĐS
Continue Reading | nhận xét

Thuốc nam chữa di tinh

Các quý ông đang “đau đầu” vì chứng di tinh hay đau lưng suy yếu có thể tham khảo một cách cải thiện bằng Đông y: dùng củ mài.
củ mài chữa trị bệnh di tinh rất hiệu quả

Củ mài, khoai mài,  thuộc họ Củ nâu. Cây dang dây  leo quấn; thân nhẵn. Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến cả mét. Lá mọc so le hay mọc đối. Cụm hoa đơn tính.  Quả nang có 3 cánh rộng 2cm. Rễ củ, thường gọi là Hoài sơn, được dùng để làm thuốc.
Củ mài
Chữa trẻ em tiêu chảy kéo dài, phụ nữ bạch đới, nam giới di tinh, đau lưng suy yếu: Dùng củ mài 200 gr, củ súng, hạt sen, ý dĩ sao, đều 100 gr, sấy khô tán bột uống mỗi ngày 20 gr với nước cơm.Chữa trẻ em gầy yếu, biếng ăn, phụ nữ có mang mỏi mệt chán cơm hay người có bệnh đái đường gầy: Dùng hoài sơn thái miếng đồ lên, sao già tán bột, uống mỗi lần 6-10 gr; ngày uống 2-3 lần vào giữa buổi lúc đói.
Thuốc bổ dưỡng: Hoài sơn, quả tơ hồng, hà thủ ô, huyết giác, đỗ đen sao cháy mỗi loại 1 kg, vừng đen 300 gr, ngải cứu 200 gr, gạo nếp rang 100 gr, muối rang 5 gr, tán bột, làm viên, uống mỗi ngày 10-20 gr.
Lương y Nguyễn Nam
Nguồn: Báo Đất Việt
Continue Reading | nhận xét

Chữa trị ăn không tiêu bằng cây mùi tàu rất hiệu quả

Nếu bị đầy hơi, ăn không tiêu, sổ mũi do nhiễm lạnh… bạn có thể dùng cây mùi tàu để cảm thấy dễ chịu hơn.

Cây mùi tàu được dùng làm rau gia vị, ăn sống hoặc nấu canh. Theo Đông y, mùi tàu có vị the, tính ấm, mùi thơm hơi hắc, công dụng kích thích tiêu hóa, mạnh tì vị, khử độc, giải khí trướng, khử thấp nhiệt, trừ hàn tà…
Trị chứng ăn không tiêu: Khi bị lạnh bụng, ăn không tiêu, đầy trướng bụng thì lấy 50 gr rau mùi tàu rửa sạch, thái nhỏ, một củ gừng tươi nhỏ rửa sạch giã nát. Hai thứ trên cho vào niêu đất, đổ ba bát nước (bát ăn cơm) sắc khi còn một bát chia uống hai lần trong ngày. Mỗi lần uống cách nhau bốn giờ.
Cây mùi tàu trị bện ăn không tiêu rất hiệu quả
Trị chứng chướng khí, thở mệt: Lấy rau mùi tài tươi rửa sạch, phơi khô nơi thoáng mát. Mỗi lần sắc 30 – 40 gr với hai bát nước còn 2/3 bát thì chia uống làm hai lần.
Trị chứng đầy hơi: Khi bị đầy hơi, cảm sốt lấy 10 – 16 gr rau mùi tàu rửa sạch, vò nát, hãm như hãm chè tươi, chia uống nhiều lần trong ngày.
Trị chứng sổ mũi, sốt nhẹ do nhiễm lạnh: Lấy 20 gr rau mùi tàu rửa sạch, thái khúc, 30 gr thịt bò băm nhỏ, vài lát gừng tươi. Đem nấu chín với 400 ml nước. Món này ăn nóng. Khi ăn cho thêm ít hạt tiêu. Sau khi ăn xong, đắp chăn kín cho ra mồ hôi sẽ khỏi.
Theo BS Nguyễn Thị Nhân - Báo Đất Việt
Continue Reading | nhận xét

NHỮNG BÀI THUỐC NAM TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN


Mùa đông, thời tiết lạnh kèm hanh khô khiến làm gia tăng bệnh viêm phế quản nhất là ở trẻ em và người già.
Theo Đông y, viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng kháithấu, đàm ẩm. Nguyên nhân là do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt và khí táo.Sau đây là một số bài thuốc chữa viêm phế quản theo từng thể bệnh:
Thể phong hàn: gặp ở giai đoạn đầu của viêm phế quản cấp. Người bệnh cóbiểu hiện ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nướcmũi, ngứa cổ, khàn tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép trị là tán hàn,tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1:

tíatô 12g, lá hẹ 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễchỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2:(Hạnh tô tán): hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác6g, gừng 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4quả. Tất cả tán bột uống ngày 15 - 20g chia làm 2 lần.
Bài 3:(Chỉ khái tán): hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, tiền hồ 12g, tử uyển 12g, cam thảo4g. Sắc uống ngày 1 thang.
-Nếu lưỡi nhờn, rêu lưỡi trắng, gia: bán hạ chế 12g, trần bì 8g.
-Nếu hen suyễn bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g.
Thể phong nhiệt: Gặp ở viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn.Người bệnh có biểu hiện ho, khạc nhiều đờm màu vàng, trắng dính, họng khô đau,sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phép trị là sơ phongthanh nhiệt, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài:
Bài 1: tangdiệp 16g, rễ cây chanh 8g, rễ cây dâu 12g, bán hạ chế 6g, bạc hà 8g, cúc hoa8g, rau má 12g, xạ can 4g, lá hẹ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2:
(Tanghạnh thang gia giảm): tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, tiền hồ 8g, chi tử 8g, bốimẫu 4g, sa sâm 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 3:(Tang cúc ẩm gia giảm): tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, ngưu bàng tử12g, bạc hà 6g, cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tiền hồ 12g, cam thảo 4g. Sắc uốngngày 1 thang.
-Nếu đờm nhiều vàng dính kèm theo sốt, bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng;gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20 - 40g.
Thể khí táo: gặp ở viêm phế quản cấp khi mùa thu - đông trời hanh. Ngườibệnh có biểu hiện ho khan nhiều, ngứa họng, miệng họng khô, nhức đầu, mạch phùsác. Phép trị là hành phế, nhuận táo, chỉ khái. Dùng một trong các bài thuốcsau:
Bài 1: tangbạch bì 12g, mạch môn 12g, lá tre 12g, lá hẹ 8g, sa sâm 12g, thanh cao 16g,thiên môn 12g, hoài sơn 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2:(Thanh táo cứu phế thang): tang diệp 12g, thạch cao 12g, cam thảo 16g, mạch môn12g, tỳ bà diệp 12g, hạnh nhân 8g, gừng 4g, a giao 8g, đẳng sâm 16g. Sắc uốngngày 1 thang.
 Nguồn: Tin từ Báo Sức khỏe và Đời sống
Continue Reading | nhận xét

Giải độc, tiêu viêm bằng con ốc sên hoa


Ốc sên hoa (Achatina fulica) là loài ốc lớn nhất trong họ ốc sên, sống ở trên cạn, nơi ẩm thấp, phổ biến trong các hốc cây, lùm bụi, nhất là ở hàng rào cây xương rồng ba cạnh.
ảnh minh họa
Đó là một động vật thân mềm (nhuyễn thể) có vỏ to, tháp có 5-6vòng xoắn, vòng miệng phồng to và rộng.
Ốcsên hoa được dùng với tên thuốc là oa ngưu, có vị mặn, tính hàn, tươi nhầy, cótác dụng bổ dưỡng, giải độc, tiêu viêm, giảm đau, chống co thắt, lợi tiểu. Ốc sênhoa 1-2 con, lấy thịt giã nát thêm ít nước, phết lên giấy để chừa một lỗ nhỏ ởgiữa, đắp chữa mụn lở mọc ở da mặt (Nam dược thần hiệu). Thịt ốc sên hoavà cùi quả ô mai lượng bằng nhau, giã nát, làm viên ngậm chữa cổ họng sưng đau,không nuốt được. Dịch ốc sên hoa đã thủy phân, đem cô đến khi đặc thành sảnphẩm mang tên “đạm ốc sên” được dùng làm thuốc bổ dưỡng rất tốt.
Đểchữa hen suyễn, thấp khớp, lấy ốc sên hoa 2 con làm thịt, nướng vàng, thái nhỏ,nấu lấy nước đặc. Măng tre 50g, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt. Trộn hainước lại, uống làm 1-2 lần trong ngày. Dùng trong thời gian dài.
Nhớtốc sên hoa là lớp chất nhầy bao bọc toàn thân ốc trong vỏ cũng được dùng làmthuốc theo kinh nghiệm dân gian. Người ta lấy nhớt bằng cách bắt ốc sên hoadùng khăn lau sạch đất dính ở miệng ốc, rồi dùng một que nhọn kích thích liêntục vào da thịt ốc, chất nhớt sẽ tiết ra rất nhiều. Lấy bông sạch quét nhớt màdùng ngay, không để nhớt lưu cữu qua ngày. Nhớt ốc sên hoa được dùng bôi chữarết cắn rất hay. Sở dĩ có tác dụng như vậy vì nhớt là một chất nhầy có phản ứngkiềm. Khi bôi lên vết rết cắn, chất nhày làm trung hòa tính acid của nọc rết,gây cảm giác mát dễ chịu, hết đau nhức.
Theo tài liệu nước ngoài, ở Pháp, người ta đã nuôi ốc sênhoa trên quy mô công nghiệp và chế biến thịt ốc thành một món ăn-vị thuốc đượcnhiều người ưa thích. Ở Trung Quốc, thịt ốc sên hoa phơi khô, mỗi lần dùng 15g,sao cháy, sắc nước uống ngày 3 lần liền trong 3-5 ngày, chữa kiết lỵ, tiêuchảy. Để chữa tràng nhạc, lấy thịt ốc sên hoa tươi 60g hoặc phơi khô 30g, tháinhỏ, nấu chín với thịt lợn nạc 100g, thêm gia vị ăn trong ngày.      
 Nguồn: Báo Sức khỏe và Đời sống
Continue Reading | nhận xét

Khi rắn độc cắn phải làm gì?

Tại một số vùng nông thôn và miền núi, tai nạn rắn độc cắn người thường xảy ra đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe kể cả tính mạng của người dân. Khi bị rắn độc cắn, cần phải xử trí như thế nào để phòng tránh những nguy cơ đáng tiếc xảy ra?



Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Khi bị rắn độc cắn, các biện pháp cần thực hiện là loại bỏ nọc độc và hạn chế sự lan tràn của nọc độc. Công việc này phải tiến hành càng nhanh càng tốt, thực hiện trong vài phút đầu tiên ngay sau khi bị cắn. Một vài điều cần chú ý khi xử trí là:
- Khẩn cấp đặt nạn nhân ở tư thế nằm, hướng dẫn nạn nhân nằm yên để làm hạn chế sự lan truyền của nọc độc. Đối với trẻ em, không cho trẻ tự đi hoặc chạy vì có thể làm cho nọc độc lan ra toàn thân.
- Cần rửa sạch vết thương bị rắn cắn với nhiều nước, nếu có nước muối hoặc thuốc sát khuẩn có thể dùng để rửa vết thương nhằm loại bỏ nọc độc.
- Chườm nước đá lạnh ở vết thương bị rắn cắn. Cởi bỏ quần áo, đồ trang sức ở vùng có vết rắn cắn vì nó có thể gây nên sự chèn ép sau này khi vùng có vết cắn bị sưng phù lên.
- Nếu bị vết rắn cắn ở chân hoặc cánh tay, cần băng ép ở phía trên vết thương bằng loại băng thun, băng được cuộn vòng cho tới sát nách hoặc háng. Chú ý không được thắt dây ga rô như phương pháp cũ trước đây. Sau đó nên bất động tay hoặc chân bằng nẹp gỗ như trong các trường hợp bất động gãy xương để làm hạn chế sự lan truyền của nọc độc.
(ảnh minh họa )

- Phải nhanh chóng chuyển nạn nhân đến bệnh viện càng sớm càng tốt. Cần giữ cho nạn nhân nằm yên trong suốt quá trình vận chuyển, chú ý để phần vị trí vết thương do rắn cắn thấp hơn so với vị trí của tim để hạn chế sự lan tỏa nhanh của nọc độc. Tốt nhất là vận chuyển bằng cáng khiên.
- Nếu con rắn được phát hiện và bị giết chết sau khi cắn, cần mang theo con rắn cùng nạn nhân đến bệnh viện để xác định danh tính loại rắn độc và bác sĩ sử dụng loại huyết thanh trung hòa nọc độc phù hợp.
Cộng đồng người dân cần có sự cảnh báo vềcác trường hợp bị rắn cắn để kịp thời cứu sống được nạn nhân. Cần xử trí ban đầu vàchuyển ngay đến bệnh viện tất cả các trường hợp bị rắn độc cắn, trường hợp bị rắn cắn nhưng nạn nhân hoặc người nhà nạn nhân không biết rõ được là loại rắn độc hay rắn lành cắn vì sau khi cắn, rắn không bị giết chết hoặc bỏ chạy mất. Ngoài ra cũng cần phải đến ngay bệnh viện tất cả các trường hợp rắn cắn bị nhiễm trùng, phù nề, có hoại tử tại chỗ.
Tai nạn bị rắn độc cắn trong thời gian qua thường hay gặp phải ở một số địa phương với nhiều nguy cơ làm ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân. Vì vậy người dân cần biết cách xửtrí phù hợp để ứng cứu kịp thời khi có tai nạn này xảy ra tại địa phương.
Continue Reading | nhận xét

THUỐC QUÝ TỪ CÂY ĐINH LĂNG



Cây đinh lăng thường được trồng ở các đình chùa, trước sân nhà làm cảnh bởi lẽ có dáng cây, kiểu lá đẹp xum xuê và quanh năm xanh tốt. Ngày xưa, nhân dân thường lấy lá non của cây đinh lăng để ăn gỏi cá nên còn gọi là cây gỏi cá.


Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L...) Harms, cùng họ với cây nhân sâm (sâm Triều Tiên) nổi tiếng (họ Araliaceae). Đinh lăng là một loại cây nhỏ, sống nhiều năm, cao từ 0,8-1,5m, thân nhẵn không có gai và phân nhánh nhiều. Lá kép 3 lần xẻ lông chim, dài 20-40cm. Phiến lá kép có thùy sâu và mép có răng cưa không đều. Vò ra lá có mùi thơm. Cụm hoa là một khối hình chùy ngắn, gồm nhiều tán đơn hợp lại. Mỗi tán mang nhiều hoa nhỏ có cuống ngắn. Hoa 5 cánh trắng hình trứng, dài 2mm có 5 nhị với chỉ nhị ngắn và mảnh, bầu dưới có 2 ô có rìa trắng nhạt. Quả dẹt màu trắng bạc dài 3-4mm, dày 1mm, mang vòi tồn tại.


Khoảng 40-50 năm trở lại đây, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chú ý đến tác dụng tăng lực, bồi bổ cơ thể của nhiều cây cùng họ với cây nhân sâm. Một số cây trong họ này cho những vị thuốc bổ nổi tiếng và được dùng từ lâu đời trong nhân dân ta như nhân sâm, ngũ gia bì, tam thất... Đinh lăng cũng có tác dụng bổ như nhiều cây họ hàng với nó. Ngày xưa vào dịp hội hè thường tổ chức thi đấu vật, trước khi thi đấu các đô vật hay vò lá đinh lăng với nước để uống cho tăng sức dẻo dai, vật lâu không mệt.


Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ, lấy ở những cây trồng từ 3 năm trở lên. Người ta thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hay mùa đông vì lúc này hoạt chất tập trung ở rễ và rễ mềm hơn. Rễ đào về đem rửa sạch đất cát, thái nhỏ rồi phơi, hay sấy khô. Cũng có thể tẩm thêm rượu, gừng và sao cho thơm. Ngoài rễ ra, người ta còn dùng cả thân và lá đinh lăng.


Những năm trước đây các nhà khoa học nước ta (Viện Y học quân sự) cũng có nhiều công trình nghiên cứu dùng đinh lăng làm thuốc tăng lực, tăng khả năng lao động cho người có kết quả tốt. Làm thuốc bổ gây ăn ngon miệng, ngủ tốt, tăng cân, giúp cơ thể chóng hồi phục sau khi mổ, ốm nặng.


Đinh lăng dùng khá an toàn. Liều trung bình là 0,25-0,50g một lần, ngày uống 2-3 lần, dùng dưới dạng thuốc bột (sao thơm, tán nhỏ, rây bột mịn), thuốc viên, hoặc rượu thuốc.


Ngoài ra một số nghiên cứu còn cho thấy đinh lăng có tác dụng an thần và làm tăng tác dụng của thuốc chống sốt rét. Trong nhân dân có nơi còn dùng rễ đinh lăng để chữa ho, thông tiểu, thông sữa và chữa kiết lỵ. Hoặc dùng lá đinh lăng giã nát để đắp vết thương. Song cần chú ý phân biệt cây đinh lăng lá nhỏ hay cây gỏi cá nói trên với mấy cây tương tự như: đinh lăng lá tròn, đinh lăng trổ... tác dụng tăng lực yếu, không bổ.


Nguồn: Sức Khỏe & Đời Sống
Continue Reading | nhận xét

CHỮA XƠ GAN CỔ TRƯỚNG ?


Cháo thuốc chữa xơ gan cổ trướng.
Cá chép nấu xích tiểu đậu:
Cá chép 1 con 0,5 – 1kg, đánh vảy, bỏ mang và ruột, đậu đỏ 120g và trần bì (vỏ quýt) 6g, rửa sạch, nhồi 2 vị vào bụng cá. Nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi, rồi nhỏ lửa, nấu tới nước sánh là được. Công dụng: thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, tiêu thũng, trị xơ gan cổ trướng vàng da, viêm túi mật, viêm tuyến tụy. Ngày ăn 2 lần, ăn cá, uống canh.

Canh thịt lợn mao căn:
Mao căn, rễ cỏ tranh (rễ khô 50g, rễ tươi 150g), cắt từng đoạn ngắn rửa sạch, thịt lợn nạc 350g, rửa sạch thái chỉ. Hai thứ cho vào nồi, nước vừa đủ, nấu chín, cho gia vị là được. Công dụng: ích khí, thanh nhiệt, lợi thấp, thoái hoàng. Trị cổ trướng vàng da, mệt mỏi, cơ thể suy nhược.
Cháo tạm trúc diệp, đậu đỏ:

tạm trúc diệp 100g, rửa sạch, cắt nhỏ, đậu đỏ loại nhỏ 50g, gạo nếp 100g đãi sạch, ngâm trương cho vào nồi, nước 1 lít, đun lửa to cho sôi, khi hạt gạo nếp sắp nở mới cho tạm trúc diệp vào, nấu chín là được. Công dụng: thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, cổ trướng, chia ngày ăn 2 – 3 lần.
Cháo ý dĩ, phục linh:
Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, ý dĩ (hạt bo bo) 100g. Ngâm xích tiểu đậu nửa ngày rồi cho vào nấu cháo cùng ý dĩ, khi chín nhừ thì cho bột phục linh vào nấu tiếp; sau đó cho ít đường đỏ, ăn trong ngày. Công dụng chữa viêm gan, xơ gan vàng da (hoàng dãn).
Cháo táo tàu, ngó sen:
táo tàu 10 quả (bỏ vỏ và hạt), hạt bo bo (ý dĩ) 50 – 100g, bột ngó sen 15g. Nấu hạt bo bo cho chín, mềm, cho táo tàu vào, đun sôi tiếp, sau đó cho bột ngó sen vào (bột hòa tan cho đều với nước sôi), đun sôi lại lần nữa là được, chia 2 lần ăn trong ngày. Công dụng: an thần, lợi thủy, trừ xơ gan cổ trướng.
Cháo nhân trần: nhân trần 60g, gạo lức 100g. Nhân trần rửa sạch đun lấy nước, bỏ bã, cho gạo lức vào, đã vo sạch, đun to lửa cho sôi, sau đun nhỏ lửa, nấu cháo loãng, có thể cho ít đường đỏ, ăn ngày 2 – 3 lần. Ăn liền 7 – 10 ngày là một liệu trình. Công dụng: trị xơ gan cổ trướng, vàng da cấp. Hoặc thay nhân trần bằng chi tử nhân 30g, gạo lức 100g. Nấu ăn như cháo nhân trần. Công dụng: trị viêm gan vàng da, thổ huyết, lỵ ra máu, tiểu ra máu, họng đau, bệnh lậu.
Ăn cá chép ốp thấm ba đậu:
cá chép 1 con to 0,5 – 1kg, dùng dao mổ dọc 2 bên sống lưng thật sâu, ba đậu 40 hạt, lột bỏ vỏ rồi nhét vào 2 bên dọc sống lưng cá cho đầy, ốp cá lại, dùng giấy bạc bọc ngoài 3 lớp, ràng rịt kỹ, để lên lửa than, nướng chín, rồi bỏ hết ba đậu, chỉ ăn cá chép với nước cơm sôi, ăn nhạt, kiêng mắm, muối. Trong ngày sẽ đi đại tiện, tống hết vật tanh hôi. Bụng xọp dần. Nếu đi đại tiện nhiều thì uống nước đun sôi để nguội sẽ đi bình thường.
Ăn cá chép, tỏi, đậu đỏ:
Cá chép tươi sống khoảng 500g, mổ thịt, để cả vảy, bỏ ruột. đậu đỏ nhỏ hạt 100g, tỏi vài nhánh. Đậu nấu chín, nhét tỏi và đậu vào bụng cá, gói cá bằng lá chuối tươi, buộc kỹ rồi vùi vào tro nóng có than hồng, khi chín dừ cá lấy ra ăn nhạt, ngày ăn một lần, ăn 3 – 6 ngày liền.
Các loại nước uống:
- Chi tử 12g, nhân trần 12g, nước 600ml, sắc còn 200ml, cho chút đường chia 3 lần uống trong ngày.
- Chi tử 16g, hoàng bá 12g, cam thảo 4g, sắc nước uống ngày một thang.
- Mẫu đơn bì 8g, rễ cỏ tranh 20g, thục địa, hoài sơn, bạch truật, địa cốt bì mỗi vị 12g, sơn thù, trạch tả, phục linh, đương quy mỗi vị 8g, sắc uống ngày một thang.
- Cây chó đẻ răng cưa 100g, sắc nước 4 lần. Lần 1: sắc với 3 bát nước lấy một bát thuốc. Ba lần sau đều sắc với 2 bát nước lấy nửa bát thuốc. Trộn chung 4 nước, thêm ít đường đỏ, đun sôi cho tan, chia 6 lần uống trong ngày. Khi hết triệu chứng xơ gan, vàng da, thôi không uống thuốc chữa.
- Nhân trần, bồ công anh, uất kim mỗi vị 30g, nghệ vàng 12g, sắc uống ngày một thang.
- Nhân trần 20g, quả dành dành 10g, đại hoàng 5g, sắc uống ngày một thang.
- Nhân trần 100g, bồ công anh 50g, đường đỏ 30g, nước 600ml, sắc với nhân trần và bồ công anh còn 400ml, cho đường vào là được. Chia 2 lần uống trong ngày.
Thuốc thoa ngoài: Rễ trầu già 10g, bồ kết 5g, long não 3g, gừng khô 4g, tỏi 1 củ nhỏ. Tất cả giã nát, ngâm với rượu trong một tuần. Dùng thoa bụng, ngày 3 lần, nhiều hơn càng tốt.
Theo Lương y Minh Chánh -  suckhoedoisong
Continue Reading | nhận xét

Gà hấp muối trị phong tê thấp

Phong tê thấp được y học cổ truyền xếp vào “tý” chứng hay còn gọi là viêm khớp dạng thấp, bệnh thuộc hệ cơ, xương khớp ở tứ chi và cơ nhục.

Đây là căn bệnh gây mất sức lao động, tàn phế, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên phong tê thấp hoàn toàn có thể phòng và trị được bằng ẩm thực trị liệu.
Dưới đây là món ăn, bài thuốc nghiệm phương độc giả áp dụng khi cần thiết.
Nguyên liệu: Gà ta 1 con nặng 300 – 350g, ngải cứu 1 nắm khoảng 100 – 150g, lá lốt 500g, muối ăn không i-ốt 3kg.
Thịt gà hấp có hiệu quả cao với chứng tê bại chân tay, sưng đau các khớp.
Cách chế biến: Gà cắt tiết làm sạch bỏ nội tạng, ngải diệp rửa sạch thái nhỏ, lá lốt rửa sạch để ráo nước. Gà để ráo nước cho lá ngải đã thái nhỏ vào bụng. Sau đó lấy lá lốt quấn vào gà dùng lạt buộc chặt. Cho khoảng 1/3 muối dưới đáy nồi (tốt nhất là nồi đất) rồi cho gà đã gói lá lốt vào đổ phần muối còn lại vào vùi kín gà (tuyệt đối không được hở) đậy vung.
Đem đun nhỏ lửa trong vòng hai giờ, trong quá trình hấp gà không để bếp tắt, không để lửa quá to. Hấp xong muối không được cháy mà chỉ ngả vàng, gà chín thơm bùi thịt gà và gia vị ngải và lá lốt, thịt gà không được mặn mới đạt yêu cầu. Khi đun đủ thời gian tắt bếp để đợi khi nguội đem ra bỏ muối và lá lốt, thịt gà đem ăn trong ngày có thể ăn với cơm. Mỗi ngày ăn một con, 10 ngày là một liệu trình.
Bài thuốc có tác dụng tư bổ can thận, tán hàn, thông kinh hoạt lạc, chỉ thống (giảm đau). Bài thuốc đã được kiểm chứng có hiệu quả cao đối với chứng tê bại chân tay, sưng đau các khớp hạn chế vận động do phong thấp ngoài ra còn thích dụng cho các chứng bệnh như suy nhược cơ thể, âm huyết hư, đau đầu hoa mắt chóng mặt, đau bụng đầy hơi, khó tiêu, đau bụng kinh, bế kinh, cảm lạnh, sợ lạnh, lạnh tứ chi, huyết áp thấp, hay đổ mồ hôi chân…
Chú ý: Khi chế biến từ thịt gà, rau ngải, lá lốt và muối đều phải khô. Muối đã dùng không được dùng lại để hấp lần sau nhất là không được dùng để ăn, những người bệnh phong tê thấp không ăn rau rút (nhút), cà pháo và những thực phẩm mang tính hàn như trai hến, thịt trâu…
Người dùng bài thuốc này để trị đau đầu thì dùng gà mái không nên dùng gà trống (bởi gà trống dễ động phong). Do bài thuốc có tính nóng nên thận trọng khi dùng cho người tăng huyết áp.
Theo Gia Đình & Xã Hội
Continue Reading | nhận xét

Đông y chữa bệnh liệt dương


Theo Đông y, có 3 nhóm nguyên nhân gây liệt dương: cơ thể suy nhược (tâm tỳ hư), rối loạn thần kinh chức năng (thận hư) và viêm nhiễm hệ tiết niệu sinh dục kéo dài (thấp nhiệt tích trệ). Đơn thuốc được kê tùy theo các nguyên nhân này.

Liệt dương do suy nhược cơ thể
Thể này hay gặp ở người mắc bệnh mạn tính về tiêu hóa hoặc hệ thống tuần hoàn. Ngoài triệu chứng liệt dương, bệnh nhân còn có biểu hiện da xanh, mặt vàng, ăn kém, ngủ ít, thảng thốt, tinh thần bất an, đoản hơi, đoản khí.
Bài thuốc: Nhân sâm, long nhãn, bạch truật, phục thần mỗi thứ 12 g, hoàng kỳ, đương quy, toan táo nhân mỗi thứ 16 g, mộc hương 6 g, viễn chí 6 g, cam thảo 4 g. Mỗi ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày thì nghỉ 10 ngày, liên tiếp trong 3 tháng.
Liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng
Thể này do hoạt động tình dục quá độ, thủ dâm gây ra.
Nếu do thận âm hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương, di tinh, hoạt tinh, người gầy, da khô, đau lưng, mỏi gối, ù tai, ngủ ít. Dùng bài thuốc: thục địa 16 g, sơn thù, trạch tả, đan bì mỗi thứ 8 g, hoài sơn, phục linh, kỷ tử, nhục thung dung, ngũ vị tử, trâu cổ, long nhãn mỗi thứ 12 g. Ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày, sau đó nghỉ 10 ngày, trong 3 tháng liên tiếp.
Nếu do thận dương hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn), di tinh, hưng phấn giảm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, mệt mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh. Dùng bài thuốc: thục địa, thỏ ty tử, phá cố chỉ, bá tử nhân, phục linh, lộc giác giao mỗi thứ 120 g, làm viên hoàn, ngày uống 30 g.
Liệt dương do viêm nhiễm
Hay gặp trong sỏi tiết niệu, sỏi bàng quang, viêm bàng quang mạn tính. Người bệnh có triệu chứng: liệt dương, khát nước, tiểu tiện đỏ.
Bài thuốc: hoàng bá nam 20 g, ý dĩ, trâu cổ mỗi thứ 16 g, mạch môn, kỷ tử, thục địa, ích trí nhân, ô dược, ngưu tất mỗi thứ 12 g, tỳ giải 24 g, sắc uống ngày 1 thang, uống 20 thang trong 1 tháng.
Chú ý: Trong thời gian uống thuốc, cần tránh quan hệ tình dục.
BACSI.com
Continue Reading | nhận xét
/

Mẹ và Bé

Sức khỏe sinh sản

BỆNH GOUT

hoanghieu.come.vn
 

Copyright © 2011. VUHOANGHIEU.TK - All Rights Reserved
Template Modify by vuhoanghieu Inspired
Proudly powered by