Amiđan nên cắt hay không?


Hiện nay có ý kiến cho rằng cắt amiđan để điều trị viêm họng chưa hẳn là tốt. Vì sao?
Amiđan là tổ chức mô bạch huyết nằm trong vòm họng. Nó có vai trò quan trọng đối với hệ miễn dịch, giúp cơ thể chống lại bệnh tật trong những năm đầu đời. Khi lớn lên, tổ chức này hay bị viêm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Do vậy, bác sĩ vẫn khuyên người hay tái phát viêm họng nên phẫu thuật cắt bỏ amiđan.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng cắt amiđan sẽ gây đổi giọng, ảnh hưởng đến thần kinh. Để làm rõ những thắc mắc này, chúng tôi đã trao đổi với bác sĩ Nguyễn Hải Tùng, Phó Tổng giám đốc kiêm Trưởng khoa Tai – Mũi – Họng, Bệnh viện Triều An, TP. HCM.
-    Thưa bác sĩ, trường hợp nào nên cắt amiđan? Triệu chứng nhận biết của các trường hợp đó ra sao?
Bệnh nhân chỉ nên cắt amiđan khi uống thuốc không có kết quả và có chỉ định phẫu thuật của bác sĩ. Những trường hợp nên cắt là khi viêm amiđan mạn tính, khiến kích cỡ to lên, gây khó thở, biến chứng viêm phế quản, thấp khớp, viêm thận, viêm nội tâm mạc.
Ngoài ra, người bị loạn cảm giác vùng họng do amiđan cũng nên cắt. Bệnh này có biểu hiện gồm đau họng, cảm giác vướng họng, hôi miệng, ho kéo dài, sốt, khi nuốt bị đau lên tai hoặc sau gáy.
-    Khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ gây mê cho bệnh nhân. Liệu điều đó có gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh?
Gây mê giúp bệnh nhân tránh căng thẳng. Thời gian gây mê ngắn nên không ảnh hưởng đến hệ thần kinh.
Amiđan nên cắt hay không?, Sức khỏe, viem Amiđan, Amiđan, benh ve Amiđan, viem hong, suc khoe, bao phu nu,Cắt amiđan để điều trị viêm họng chưa hẳn là tốt. (Ảnh minh họa)
-    Các biến chứng có thể gặp khi cắt amiđan là gì? Sau khi cắt, bao lâu bệnh nhân có thể về nhà và nên chú ý gì khi ăn uống? Nhiều bạn lo ngại sau khi cắt sẽ bị đổi giọng, vậy phải làm sao?
Hai biến chứng có thể xảy ra là viêm nhiễm và chảy máu sau khi cắt. Tuy nhiên, tỷ lệ bị biến chứng rất thấp.
Trường hợp sau khi cắt amiđan bị đổi giọng cũng rất hiếm thấy. Các chuyên gia khoa tai – mũi – họng ở các bệnh viện hiện áp dụng phương pháp cắt amiđan thông dụng nhất là bóc tách truyền thống, dùng dao điện lưỡng cực Bipolar và Coblator (dùng sóng năng lượng tầng để tiêu hủy mô amiđan).
Nếu viêm amiđan gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, bạn nên đến chuyên khoa tai – mũi – họng. Bác sĩ sẽ khám và chỉ định điều trị, phẫu thuật phù hợp với bạn. Sau phẫu thuật, bạn có thể về nhà trong ngày hoặc ở lại bệnh viện một ngày. Về nhà, bạn chỉ nên uống nước và sữa, hai mươi bốn giờ sau  có thể ăn cháo lỏng.
Từ ngày thứ ba, bạn có thể ăn cơm. Một tuần sau là bạn có thể nói chuyện bình thường. Vết mổ sẽ lành sau 8 – 10 ngày.
Xin cảm ơn bác sĩ!


(Theo Phan An/Tiếp thị và Gia đình)
Continue Reading | nhận xét

U xơ vòm mũi họng và nguy cơ tử vong


U xơ vòm mũi họng là một khối u lành tính (bản chất là những sợi mạch tập trung lại) nhưng có khả năng lan rất rộng, phá hủy xương mạnh, có thể lan rộng vào nội sọ làm nguy hiểm tới tính mạng người bệnh nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời.



Nhiều giả thuyết về căn nguyên gây bệnh
U xơ vòm mũi họng là một bệnh lý phổ biến ở tuổi dậy thì, thường gặp ở nam giới, tuổi từ 15-25. Nguyên nhân chính xác của bệnh lý này cho đến nay cũng chưa được biết một cách chính xác nhưng người ta cho rằng sự phát triển của u xơ vòm mũi họng liên quan tới nội tiết ở giai đoạn dậy thì. Khối u xuất phát từ một loại mô có mang hormon kích thích corticoid giới tính tại đầu trong của sụn cuốn mũi, điều này giải thích vì sao mà u xơ vòm mũi họng rất hiếm có sau tuổi trưởng thành. Một số giả thuyết khác cho rằng u hình thành từ sụn lúc phôi thai của mảnh xương chũm; hoặc cho rằng u xuất phát từ những tế bào nhánh tận cạnh hạch không ưa chrôm của động mạch hàm trong; do rối loạn về cốt hoá của xương nền sọ và cuối cùng là do sự kích thích cốt mạc nền sọ bởi viêm V.A mạn tính…
Bộ mặt khủng khiếp
Trước kia người bị u xơ vòm mũi họng được mô tả với bộ mặt khủng khiếp như nhãn cầu lồi ra khỏi hốc mắt, mũi nở rộng, má phồng lổn nhổn như đá cuội. Ngày nay chúng ta không còn thấy mức độ nặng nề như thế nữa vì bệnh đã được phát hiện sớm hơn. Bệnh nhân bị u xơ vòm mũi họng thường đến viện vì dấu hiệu chảy máu mũi đỏ tươi, từng đợt, tự cầm.
Khi khai thác bệnh nhân thường thấy bệnh diễn biến âm thầm với biểu hiện ngạt tắc mũi một bên ngày càng tăng, giai đoạn muộn ngạt tắc mũi cả hai bên. Chảy nước mũi liên tục, nhiều lên dần với hai lỗ mũi ướt và đầy chất nhầy. Thỉnh thoảng chảy máu cam, lúc đầu có khả năng tự cầm, sau phải có can thiệp của các cơ sở y tế mới cầm được máu mũi. Đi cùng các triệu chứng này là dấu hiệu ù tai và nghe kém do khối u chèn ép vùng loa vòi tai. Bệnh nhân gầy xanh, mệt mỏi do mất máu kéo dài.
Hình ảnh khối u vòm xâm lấn sọ trên phim chụp MRI.
Quan sát trực tiếp thấy khối u xơ bám sát vào nền sọ vùng họng mũi và len lỏi vào các cấu trúc lân cận tạo ra các chân bám vào vùng bướm sàng, chu vi cửa mũi sau, cánh trong chân bướm. Khối u chắc, có nhiều thùy, có cuống. Kích thước to nhỏ tùy thuộc vào thời gian xuất hiện bệnh đến lúc được phát hiện bệnh và phẫu thuật lấy bỏ khối u. Lấy khối u đem quan sát dưới kính hiển vi sẽ thấy trong khối u có rất nhiều mạch máu hoặc những hồ máu nằm rải rác cùng tổ chức xơ và hình thành một mạng lưới dưới niêm mạc bao bọc toàn bộ khối u. Khám hốc mũi thấy một khối u màu hồng nhạt, nằm bịt cửa mũi sau, khi phát triển lớn lấp đầy hốc mũi, khối u đẩy dồn làm hẹp hốc mũi bên đối diện, nhưng không làm tổn thương niêm mạc mũi. Khám họng và soi mũi sau thấy màn hầu phồng lên, bị đẩy dồn về phía trước và phía dưới hoặc quá to thòi xuống tận họng miệng. Nhức đầu kèm theo gặp trong khoảng 25% trường hợp do những lỗ thông xoang bị tắc do khối u hoặc do nhiễm khuẩn. Ngoài ra bệnh nhân còn có những triệu chứng khác: giảm khứu hay mất hẳn khứu giác, đau tai một bên, khẩu cái mềm bị đẩy lệch, mắt lồi, cứng hàm…
Nếu để phát triển tự nhiên khối u sẽ lấp đầy hốc mũi, xoang hàm, xoang bướm, hốc mắt, phá vỡ hàm ếch, tiêu xương hàm trên và nổi phồng dưới da. Khối u chui vào nội sọ, tổn thương thần kinh nội sọ làm mù mắt, khó nuốt, không ngửi được. Bệnh nhân có khối u xơ vòm mũi họng không được điều trị sẽ tử vong vì chảy máu và biến chứng nội sọ gây tăng áp lực sọ não.
Chẩn đoán xác định được thực hiện qua thăm khám lâm sàng: Khối u màu hồng, xuất hiện ở cửa mũi sau của bệnh nhân nam giới tuổi từ 15-25, có chảy máu mũi từng đợt, chụp CT. Scanner và chụp mạch để có chẩn đoán xác định.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu.
- Nếu phát hiện sớm khối u có thể mổ qua đường nội soi lấy bỏ, đường này không để lại vết sẹo cạnh mũi như phẫu thuật với khối u to.
- Khi khối u quá to phải mở rộng cạnh mũi để lấy bỏ khối u.
Xạ trị kết hợp với nội tiết tố giúp teo nhỏ khối u thực hiện khi không còn chỉ định phẫu thuật.
Theo TS. Phạm Bích Đào – Suckhoedoisong
Continue Reading | nhận xét

Viêm mũi dị ứng – Dùng thuốc như thế nào?

Viêm mũi dị ứng (VMDU) xuất hiện theo mùa (vào dịp đông xuân do bụi phấn hoa cây cỏ) hoặc quanh năm (do lông súc vật, bụi từ quần áo, chăn, gường chiếu hay các loại khói bụi khác). VMDU thường gặp ở người
có cơ địa dễ nhạy cảm với dị nguyên. Biểu hiện cụ thể: ngứa, hắt hơi, chảy nước mũi, chảy nước mắt, phù niêm mạc, ngạt mũi. Rất nhiều người chữa kém hiệu quả, nhưng nếu biết dùng đúng thuốc, đúng kỹ thuật tuy không khỏi hẳn nhưng cũng ổn định trong thời gian khá dài, giảm rõ triệu chứng, dễ hơn rất nhiều.
Thuốc dùng trong VMDU gồm các thuốc cũ: nhóm kháng histamin, nhóm chống nghẹt mũi, các thuốc mới: nhóm corticoid hít.
Nhóm kháng histamin
Chống ngứa mũi, chảy nước mũi, chảy nước mắt nhưng không làm co mạch nên không chống được nghẹt mũi. Dùng thế hệ cũ (chlopheniramin) gây buồn ngủ, không dùng được cho người lái xe, vận hành máy, cần tập trung. Dùng thế hệ mới (claritin, acrivastin) không gây buồn ngủ, tiện lợi hơn.
Nhóm chống nghẹt mũi
Natrichlorid: dung dịch natriclorid đẳng trương (0,9%) làm co mạch nên chống được nghẹt mũi. Không độc. Dùng cho người lớn, trẻ em, kể cả sơ sinh.
Naphazolin: làm cường giao cảm gây co mạch tại chỗ ở mũi nên chống nghẹt mũi. Dùng dạng nhỏ mũi 0,05 – 0,1% cho người lớn. Với trẻ em: cũng gây cường giao cảm nhưng mạnh hơn, trước hết tác dụng tại chỗ gây co mạch mạnh, làm cho máu không đến niêm mạc mũi, gây hoại tử; sau đó hấp thu vào bên trong, gây nhức đầu, chóng mặt, tăng huyết áp, tim nhanh, kích động, lo âu; đặc biệt là gây co mạch ở não, tim, da đầu có thể dẫn đến tử vong.
Không dùng cho trẻ em dưới 15 tuổi.
Xyclomethazolin: do làm co mạch nên chống nghẹt mũi. Dùng cho người lớn hay trẻ em nhưng không quá 3 ngày. Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi.
Phenylephrin: làm tăng tiết adrenalin gây hiện tượng adrenegic làm co mạch, giảm xung huyết, chống nghẹt mũi. Tuy nhiên, cũng do hiện tượng này mà làm tăng huyết áp, tăng nhãn áp, không dùng được cho người bị bệnh tăng huyết áp người đang dùng thuốc trầm cảm IMAO. Trẻ em rất nhạy cảm với phenylephrin, nhất là khi trẻ tự dùng mà không kiểm soát được liều, sẽ gây độc tại chỗ cũng như toàn thân. Tuy nhiều tài liệu chỉ cấm dùng cho trẻ em dưới 3 tuổi, cho phép dùng cho trẻ lớn tuổi với nồng độ thấp hơn, nhưng đa số thầy thuốc lâm sàng đều khuyên không nên dùng cho trẻ em. Người lớn mỗi lần chỉ dùng một bên mũi, mỗi ngày không dùng quá 5 lần.
Đặc điểm chung của nhóm thuốc cũ chỉ giảm được một số triệu chứng, gây “quen” thuốc, thậm chí gây phản ứng “dội ngược” thuốc, làm cho bệnh nặng thêm. Tuy nhiên, vì thuốc rẻ tiền, thấy hiệu quả ngay tuy tạm thời, nên hiện vẫn dùng khá phổ biến.
Nhóm corticoid hít
Dùng corticoid uống kéo dài, liên tục có thể đỡ bệnh, nhưng corticoid ngoại lai này sẽ ức chế tuyến yên, không cho tuyến yến tiết ra hormone hướng thượng thận. Tuyến thượng thận lâu ngày không hoạt động sẽ bị teo, không còn chức năng tiết ra corticoid nội sinh. Khi ngừng dùng corticoid ngoại lai, cơ thể bị thiếu corticoid nội sinh đột ngột sẽ bị suy thượng thận cấp, nếu nặng không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Vì thế không thể dùng corticoid uống kéo dài liên tục để chữa VMDU.
Dùng các corticoid tổng hợp fluticason, beclomethason, budesonid dưới dạng hít hay dạng khí dung (gọi chung là corticoid hít) thì thuốc sẽ có tác dụng tại chỗ rất mạnh, làm giảm các chất trung gian gây viêm, nên làm giảm ngứa, hắt hơi, chảy nước mũi, chảy nước mắt, phù niêm mạc, ngạt mũi. Một phần rất nhỏ thuốc (khoảng 10%) có thể từ đường mũi đi vào bên trong cơ thể nhưng vì các corticoid này chuyển hóa rất nhanh tại gan thành các chất không có hoặc có tác dụng sinh học rất thấp nên sinh khả dụng toàn thân thấp, không gây độc toàn thân như khi uống. Như vậy, các corticoid hít này có sự cân bằng độc đáo giữa hiệu lực chữa bệnh và độ an toàn.
Dùng dạng hít hay dạng khí dung (phủ hạt nhỏ như sương) vào niêm mạc mũi. Corticoid hít thường có hiệu lực ngay trong vòng 24 – 48 giờ. Tuy nhiên để có hiệu lực đầy đủ cần một khoảng thời gian cần thiết (chẳng hạn như 2 – 4 ngày với fluticason, 3 – 7 ngày với bude sonid). Cần điều trị đều đặn theo khoảng cách giữa các lần dùng thích hợp mới có hiệu quả. Chẳng hạn như với fluticason dùng mỗi ngày 2 lần (8 giờ sáng và 8 giờ tối, sau đó có thể duy trì liều thấp hơn mỗi ngày 1 lần).
Để thuốc sớm có hiệu quả lúc khởi đầu, có thể dùng corticoid hít phối hợp với các thuốc kháng histamin, giãn phế quản, coricoid uống; sau đó có thể ngừng các thuốc phối hợp này, chỉ duy trì bằng corticoid hít.
Corticoid hít không độc nhưng cũng có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn như: đau đầu, viêm họng, kích ứng mũi, hắt hơi, ho, buồn nôn, nôn, chảy máu cam, phát ban da, ngứa, sưng mặt, sốc phản vệ, nhưng ít gặp.
Dạng thuốc hít nếu dùng kéo dài kèm theo corticoid uống cũng có thể bị ngộ độc toàn thân, biểu hiện: cường vỏ thượng thận, nếu ngừng ngay thuốc uống lại có thể gây suy thượng thận. Cần cẩn thận khi phối hợp với corticoid uống trong trị viêm mũi hay với người viêm mũi có kèm thêm hen (như nói trên).
Với người mang thai cho con bú: corticoid gây hại thai, tiết vào sữa gây hại trẻ bú. Tuy nhiên, với corticoid hít chưa thấy hiện tượng này nên vẫn có thể dùng cho người có thai cho con bú. Không dùng corticoid hít chữa VMDU cho trẻ em dưới 12 tuổi, riêng beclomethason không dùng cho trẻ dưới 6 tuổi. Corticoid hít hầu như không độc, có thể dùng lâu dài ổn định bệnh, được coi là thuốc chủ lực trong điều trị VMDU.
Về kỹ thuật dùng thuốc
Dạng hít tính liều theo nhát xịt (như corticoid hít). Không đưa đầu ống xịt vào sâu trong mũi mà chỉ đặt đầu ống xịt ngay đầu mũi để xịt thuốc (dạng giọt, hay phun sương) vào đúng niêm mạc mũi.
Dạng dung dịch nhỏ giọt, tính liều theo giọt (như các dung dịch nhỏ mũi). Dùng hai ngón tay kẹp nhẹ, cho thuốc chảy ra theo giọt, chứ không dùng cả tay hay nhiều ngón bóp mạnh làm thuốc chảy thành dòng, không đếm được, sẽ dẫn đến quá liều. Cần giúp trẻ dùng, vì trẻ dưới 12 tuổi khó thực hiện đúng kỹ thuật nói trên dù rất đơn giản. Dùng không đúng kỹ thuật sẽ không đảm bảo được liều dùng hoặc quá liều, khó đạt hiệu quả, dễ bị ngộ độc.
DS.CKII. BÙI VĂN UY – SKDS
Continue Reading | nhận xét

Phương Pháp Chữa Bệnh Viêm Xoang, Viêm Mũi Hiệu Quả




Cây Xương Cá (Tên gọi khác: Cây Giao)

I/ Mô tả:
Là một loại cây thuộc họ xương rồng, không lá, không gai. Có nơi lại gọi là

cây nọc rắn, cây càng tôm, cây xương khô, cây giao hay cây san hô xanh. Cây mọc hoang nhiều nơi. ở thôn quê, cây có thể dùng làm hàng rào. Thân chỉ gồm nhiều đốt tròn có đường kính như chiếc đũa, màu xanh, có độ dài không đều, mọc tủa ra các phía. Lá nhỏ, hẹp, rụng sớm, chỉ còn cành nhánh trơ trọi. Thân khi bẻ ra thấy nhiều mủ màu trắng đục như sữa, và chính mủ này là tác nhân trị bệnh của cây.
Cây dễ trồng bằng cách cắt cành và giâm xuống đất ẩm. Đoạn cây được cắt ra nên chọn hơi lớn một chút, từ 3, 4 đốt trở lên, để đảm bảo cây mạnh, dễ bén rễ. Sau khi cắt rời đoạn cây thì nên để trong bóng râm chừng một hoặc hai ngày cho khô mủ, trồng sẽ nhanh bén rễ hơn. Nếu lấy cây để dùng nhưng chưa xài tới thì nên giâm ngay xuống đất để giữ độ tươi của cây (cây không bị khô mủ) để dùng dần. Sau khi giâm, ta tưới nước vừa phải mỗi ngày, sau vài ngày thì cây sẽ bén rễ, rồi dần sẽ nhảy nhánh con, phát triển tốt.
Cây xương cá có hình thức bề ngoài rất giống một loại cây khác chỉ dùng để trồng kiểng đơn thuần, không có tác dụng chữa bệnh. Điểm phân biệt 2 loại cây này, theo kinh nghiệm thực tế, là: cây xương cá có mủ rất nhiều, còn loại cây kia thì lại không có mủ hoặc nếu có cũng rất ít. Vì vậy, nếu bẻ nhánh ra thấy CÓ NHIỀU MỦ TRẮNG ĐỤC NHƯ SỮA thì chắc là đúng cây thuốc.

Lưu ý:
Vì thuộc họ xương rồng, có mủ đục nên cây có đặc tính là mủ có hại cho mắt. Do đó, khi thao tác làm thuốc (cắt, bẻ, …) nhất thiết phải thật cẩn thận, tránh để mủ này dính vào mắt (có thể mang kiếng, …), bởi vì mủ có khả năng làm đui, mù mắt. Nếu mủ dính vào tay, chân, … thì dùng xà bông rửa ra dễ dàng. Dính vào áo, quần: dùng chanh để tẩy ra. Còn nếu đã lỡ dính vào mắt: ta rửa mắt bằng nước sạch rồi nhắm mắt lại, dùng chanh thoa bên ngoài mí mắt.


II / Công dụng:
Công dụng chủ yếu là chữa chứng bệnh viêm xoang mũi. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào của bệnh cây thuốc này cũng có thể trị được, dù tỷ lệ này là rất cao, khoảng trên 90% người bệnh được trị khỏi.
Cây còn có thể trị được các bệnh khác như: mụt cóc, viêm, trặc tay chân, thấp khớp, đau đầu trun, cá đâm, rắn cắn, …


III/ Cách trị bệnh viêm xoang mũi bằng phương pháp xông hơi:
*/Chuẩn bị một cái ấm nước nhỏ (nhôm, sành đều được nhưng không dùng để nấu nước uống vì sợ độc).

*/Lấy một miếng giấy khá lớn, một tờ giấy lịch treo tường lớn hoặc nối 2 đ 3 tờ giấy A4 bằng băng keo thành 1 tờ lớn, rồi quấn xéo lại thành một cái ống dài khoảng 5 tấc (50cm) chứ không được làm ngắn hơn vì sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít. ống phải quấn sao cho 1 đầu vừa hoặc lớn hơn miệng vòi ấm còn 1 đầu nhỏ hơn để hít. Nếu có ống tre thì tốt hơn, nhưng không được dùng nhựa, dễừ nóng chảy!

*/ Mở nắp ấm, đổ vào cỡ 1 chén nước.

*/Đếm cỡ 10 đến 20 đốt cây xương cá (tùy theo số cây mình có được nhiều hay ít), cắt nhỏ các đốt cây (thành cỡ phân nửa của lóng tay) rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm, để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Phải luôn cẩn thận tránh mủ văng vào mắt, nguy hiểm.

*/ Đặt ấm lên bếp.

Nếu có bếp gas thì làm tiếp như sau:

*/ Đầu tiên, vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi lên.

*/Đến khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì ta bớt lửa đến cực nhỏ, chỉ canh sao cho vừa đủ để hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm là đủ. (Các loại bếp khác cũng phải tìm cách bớt lửa để xông được lâu và không quá nóng).

*/Kế tiếp, lấy ống giấy đã quấn, đưa đầu lớn của ống vào vòi ấm, còn đầu nhỏ cho vào mũi để hít hơi xông lên.

*/ Thời gian xông có thể chỉ là 15, 20 phút, hay nếu có thời gian thì xông 30 đến 50 phút. Nên để dành và hâm lại nước trong ấm để dùng, thường là 2 lần trong ngày (sáng và tối). Sau đó đổ bỏ, hôm sau làm lại liều thuốc mới.

*/ Khi hâm lại dùng lần 2 thì cho thêm một ít nước cùng với 1 vài đốt cây để bổ sung thêm thuốc.


Lưu ý:

*/ Nên bắt đầu xông ngay khi vừa bốc hơi, để tận dụng lúc chất mủ còn đậm đặc sẽ đạt hiệu quả nhanh.

*/ Vì hơi xông ra rất nóng, nên ta có thể hít một lát, đến khi thấy nóng quá thì quay mặt ra thở bên ngoài, rồi lại quay vào xông tiếp. Nên linh động làm sao để xông 1 cách thoải mái là được. Chẳng hạn: tránh đừng chạm trực tiếp mũi vào ống xông, do sức nóng truyền từ ấm sang ống có thể làm phỏng da non.

*/ Nếu thấy không chịu nổi hơi quá nóng thì có thể để nước sôi rồi tắt bếp, hít cho đến lúc thấy hơi còn quá ít thì lại mở bếp để nước sôi lại rồi tiếp tục làm như trên.

*/ Nên xông kiên trì cho đến khi hết hẳn, bệnh nặng có thể xông đến khoảng 30 ngày. Sau đó duy trì thêm 1 vài lần cho chắc ăn rồi ngưng, không nên lạm dụng. Về sau, nếu có tái phát mới xông tiếp. Có nhiều trường hợp bệnh nặng lâu năm, khi xông đã khỏi bệnh lâu dài.

*/ Cây này hễ bệnh càng nặng thì khi xông sẽ càng thấy có hiệu quả nhanh. Còn bình thường, chỉ sau từ 2 đến 3, 4 lần xông sẽ thấy thuyên giảm rõ. Nếu xông quá lâu (5, 7 ngày) mà vẫn không có chút kết quả gì thì chỉ có thể là không “chịu thuốc” (người bệnh ở một dạng lạ của bệnh, thường ít gặp) hoặc là đã lấy không đúng giống thuốc hay sử dụng không đúng cách, nên ngưng dùng.

*/ Trẻ em nên xông với thời gian ngắn hơn người lớn. Tập làm quen dần rồi tăng thời gian lên.
*/ Khi tắt bếp rồi, nên hít tiếp cho đến nguội để tận dụng hơi nóng nhẹ, hít sâu vào tận hốc mũi.


IV /Cách trị các chứng bệnh khác theo kinh nghiệm dân gian:

1> Mụt cóc – Mụt thịt:
Bẻ chỗ giao nhau giữa 2 đốt cây sẽ có mủ nhiều. Lấy mủ chấm gọn lên mụt cóc, đừng làm lan rộng quá. Mỗi ngày chấm 2 lần. Khoảng 1 tuần mụt sẽ rụng, để lại lớp da bình thường.

2> Các bệnh trị bằng cách đắp, bó thuốc:
Để trị bong gân, sưng trặc tay chân, đau đầu trun (đầu ngón tay tự dưng sưng, đau nhứt dữ dội), cách đắp như sau:
Lấy 1 lượng thuốc vừa phải. Cắt nhỏ. Trộn chung với 1 ít muối bột. Cho vào bao nylon. Đập nát bằng búa bên ngoài bao. Xong, đắp lên chỗ đau. Dùng vải quấn hay bó lại. Sau 1 đêm là khỏi.

3> Khi bị cá đâm, rắn cắn, bò cạp, rít cắn:
Lấy mủ cây xương cá bôi trực tiếp vào vết thương.

Lưu ý: Để cẩn thận, không nên xông trị viêm xoang cho phụ nữ có thai.

LƯU Ý THÊM:
*/ Nên xông 2 hôm đầu mỗi lần 20 phút.
*/Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 mỗi lần xông 25 phút.
*/ Sau đó xông 30 phút mỗi lần và duy trì như vậy cho đến khỏi bệnh.
*/ Khi bệnh đã khỏi nên xông củng cố thêm vài lần, mỗi lần 45 phút rồi mới nghỉ hẳn.
*/ Đặc biệt cần phải lưu ý: ống xông phải dài được 5 tấc (50cm) hoặc hơn chút ít.


DIỄN BIẾN TRONG THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ:
*/ Tùy theo bệnh trạng mà diễn biến của quá trình điều trị có thể khác nhau:

*/ Có người xông vào thấy thông mũi, nhẹ đầu, dễ chịu và khỏi bệnh nhanh chóng.

*/ Có người 2, 3 hôm đầu thấy sổ mũi nhiều, khó chịu nhưng tiếp tục xông sẽ qua khỏi và êm dần cho đến khi hết bệnh.

*/ Có 1 số bệnh nhân viêm xoang sàng sẽ thấy bớt đau ở cổ và vai nhưng dồn lên đau nhiều ở đầu. Nhưng chừng 2, 3 hôm sau đó sẽ dịu dần và xông tiếp sẽ hết đau rồi hết hẳn bệnh.




Người chỉ cho phương pháp này là cô Phúc, địa chỉ nhà
ở số 24, đường số 26, khu dân cư Bình Phú, quận 6, Tp.HCM - gần METRO Bình Phú. Cô đã từng áp dụng phương pháp chữa bệnh cho hàng ngàn người, đến nay gần như tất cả đều đã khỏe hơn rất nhiều. Nói chính xác là cô không chữa bệnh, mà chỉ cách cho mình tự chữa lấy, và cô cung cấp thuốc miễn phí.
Với tấm lòng nhân ái, cô cùng chồng và các bạn của cô, thường xuyên đi tìm cây thuốc, cung cấp cho người bệnh hoàn toàn miễn phí, theo mình biết thì khoảng 10 năm nay rồi. Ai có bệnh thì cô sẵn sàng giúp, và cung cấp cây thuốc giống để tự trồng, tự chữa bệnh và nhân rộng cây thuốc này.
Bạn nào quan tâm, muốn hiểu rõ hơn thì có thể liên hệ trực tiếp
Cô Phúc, Số ĐT 8766929.
Nếu các bạn muốn liên hệ để nhận thuốc, hãy gọi điện để đăng ký. Nếu có cây thuốc thì có thể theo chỉ dẫn trên để tự chữa cũng được.

Continue Reading | nhận xét

Xoa bóp chữa bệnh viêm họng mạn tính


 




Viêm họng là bệnh rất hay gặp trong mùa đông do thời tiết lạnh và hanh khô kéo dài. Bên cạnh đó, hút thuốc lá, nghiện rượu nặng, hoặc phải sống trong môi trường  nhiều bụi, khí độc,…
là những yếu tố thuận lợi làm mắc bệnh. Nếu không được điều trị triệt để sẽ dẫn đến viêm họng mạn tính hoặc gây viêm phế quản, phổi... Người bệnh có cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng; ho và khạc đờm (quánh dính hoặc trắng nhầy) thường xuyên, nhất là sáng sớm, khi ngủ dậy. Do ngứa họng nên người bệnh hay khạc nhổ, ho khan, đặng hắng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và công việc. Gặp điều kiện thuận lợi như những ngày trời rét đậm hoặc sức đề kháng của cơ thể giảm sút, bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp (người bệnh có đau họng, sốt, ho khạc đờm đặc...). Theo Đông y, viêm họng  thuộc phạm vi chứng tý, gọi là  hầu tý. Nguyên nhân là do phong hàn, phong nhiệt hoặc khí táo. Xoa bóp bấm huyệt là một phương pháp đơn giản của Đông y giúp giảm bớt những triệu chứng của viêm họng mạn và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng của viêm họng. Ngoài việc uống thuốc, nên kiên trì thực hiện xoa bóp hằng ngày sẽ có hiệu quả.
Day huyệt phong trì.
Vuốt hai bên họng: Dùng ngón tay cái day ấn huyệt liêm tuyền khoảng 3 phút.
Dùng ngón tay cái và ngón trỏ vuốt hai bên cạnh họng từ trên xuống khoảng 3 phút.
Dùng ngón cái và ngón trỏ tay phải đặt nhẹ hai bên xương sụn họng (chỗ yết hầu) lắc chậm rãi sang phải, sang trái khoảng 30 lần.
Xoa day huyệt phong trì: Dùng hai ngón tay cái ấn vào huyệt phong trì và day khoảng 2 phút.
Xoa huyệt dũng tuyền: Để chân trái lên đầu gối  chân phải, dùng tay phải xoa mạnh lòng bàn chân trái, nhanh và mạnh dần đến khi cảm giác nóng lên thì thôi. Sau đó đổi chân xoa bằng tay trái.
Vị trí huyệt:
- Liêm tuyền: Chính giữa bờ trên sụn giáp trạng, trên lằn chỉ ngang chỗ cuống hầu, ở trên khe của xương móng và sụn giáp trạng.
- Phong trì: Ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức đòn chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ.
- Dũng tuyền: Dưới lòng bàn chân, huyệt ở điểm nối 2/5 trước với 3/5 sau của đoạn đầu ngón chân thứ hai và giữa bờ sau gót chân, lỗ hõm dưới bàn chân.
Để phòng bệnh, cần thực hiện những điều sau: - Súc miệng hằng ngày bằng nước muối loãng và ngậm chanh muối, gừng muối, quất hấp đường phèn hoặc mật ong.
- Phòng ở và nơi làm việc phải đủ ấm, tránh làm việc trong môi trường nhiều khói bụi, hóa chất. Cần giữ ấm đặc biệt là cổ và ngực, đeo khẩu trang khi đi ra ngoài trời.
- Kiêng hút thuốc lá và hạn chế rượu. Ăn đủ chất dinh dưỡng để cơ thể có sức đề kháng, tránh các thức ăn cay, mặn.
- Tránh bị cảm cúm và viêm mũi họng cấp. Khi bị viêm họng cấp hoặc đợt cấp của viêm họng mạn, cần dùng thuốc của y học hiện đại theo chỉ định của bá 
    Continue Reading | nhận xét

    Viêm họng đỏ dùng thuốc gì?




    Viêm họng đỏ thực chất là viêm niêm mạc họng cấp tính hoặc viêm amiđan cấp tính hay gặp vào mùa lạnh, khi thời tiết thay đổi. Viêm họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến, có thể xuất hiện riêng biệt, nhưng thường gặp xuất hiện với các bệnh: viêm VA, viêm amiđan, bệnh phát ban, cúm, sởi, bạch hầu, ho gà, vincent hoặc một số bệnh máu.
    Nguyên nhân có thể do virut (cúm, sởi) hay vi khuẩn (phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng).
    Khi bị viêm họng đỏ người bệnh thường có các triệu chứng như: sốt cao 390C- 400C, nhức đầu, đau mình, đau họng, ngạt tắc mũi hoặc chảy nước mũi nhày, ăn ngủ kém...
    Bệnh diễn biến trong 3 - 4 ngày, nếu sức đề kháng tốt bệnh sẽ lui dần các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh. Nhưng nếu có bội nhiễm do liên cầu, tụ cầu, phế cầu dễ dẫn đến các biến chứng như viêm tai, viêm mũi hay viêm phế quản.
     Hình ảnh viêm họng đỏ. Ảnh: TL
    Để điều trị bệnh viêm họng đỏ có thể dùng các thuốc sau: Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau như: paracetamol, aspirin... Cần chú ý đối với những người có tiền sử bị loét dạ dày tá tràng không nên dùng thuốc hạ sốt aspirrin (vì một trong những tác dụng phụ của aspirin là gây viêm loét dạ dày tá tràng). Chống đau họng bằng cách súc họng hàng ngày bằng các dung dịch: nước muối, dung dịch clorat kali 1% hoặc BBM; trẻ em bôi họng bằng glyxerin borat 5%. Dùng thuốc nhỏ mũi argyron 1% để chống xuất tiết mũi (nếu có) nhưng chỉ dùng tối đa 3 ngày. Có thể điều trị khí dung họng bằng kháng sinh phối hợp với corticoid.  Trường hợp có bội nhiễm hoặc nguyên nhân do vi khuẩn dùng kháng sinh đường uống (toàn thân). Người bệnh cần được nghỉ ngơi, giữ ấm.
    Để phòng bệnh không dùng chung khăn mặt, bát đĩa cốc chén với người bệnh. Nhỏ nước muối sinh lý hoặc nước tỏi pha loãng khi xung quanh có nhiều người viêm họng cấp tính. Cắt amiđan khi bị viêm tái phát nhiều lần.
    Continue Reading | nhận xét

    Hậu quả từ thói quen ngoáy tai


    Hậu quả từ thói quen ngoáy tai
    Nhiễm nấm do ngoáy tai.
    Ngoáy tai là thói quen rất thường gặp, từ trẻ đến già, cứ ngứa tai là ngoáy, tắm xong cũng ngoáy, thỉnh thoảng lại ngoáy tai với lý do là để cho tai
    sạch. Họ thường dùng tăm bông hay bất kỳ một loại vật cứng nào để ngoáy tai. Vậy ngoáy tai thường xuyên như thế có tốt không?
    Hậu quả khi ngoáy tai nhiều
    Ngoáy tai nhiều gây rách, trầy xước lớp da bảo vệ thành ống tai làm cho vi khuẩn gây bệnh dễ dàng xâm nhập vào tổ chức liên kết nằm bên dưới lớp da gây viêm ống tai - đặc biệt là khi người bệnh bơi ở những ao hồ bẩn. Mặt khác việc ngoáy tai có thể đẩy khối ráy tai (nếu có) vào sâu hơn trong ống tai ngoài, thậm chí ấn sát vào màng nhĩ gây đau tai. Ngoáy tai cũng có thể đưa thêm vi khuẩn, nấm từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào da ống tai. Chảy máu tai do rách da ống tai ngoài là một trong những tai biến hay gặp nhất của việc ngoáy tai. Khoa Cấp cứu Bệnh viện tai mũi họng Trung ương cũng đã tiếp nhận một trường hợp bệnh nhân ngoáy tai bằng que sắt lấy từ một cái ô hỏng, khi đang ngoáy bị cháu xô phải, xuyên thẳng vào trong tai trong hoặc não gây tổn thương nặng nề.
    Nếu ngoáy tai làm nhiễm khuẩn ống tai ngoài, tai sẽ đau nhức, chảy mủ, ù tai, nghe kém thậm chí một số bệnh nhân đến khám khi ống tai ngoài bị viêm tấy lan tỏa ra nửa mặt, chảy máu lẫn nước mủ ra cửa tai.
    Hậu quả từ thói quen ngoáy tai, Tai - Mũi - Họng, Sức khỏe đời sống, suc khoe, viem tai, ngoay tai, thung mang nhi, viem ong tai

    Ngoáy tai có thể gây thủng màng nhĩ.
    Viêm ống tai là hậu quả thường gặp
    Triệu chứng ban đầu của viêm ống tai là ngứa tai, ngứa tai ngày càng tăng dần đặc biệt nếu ngoáy tai nhiều, sau đó bệnh nhân có biểu hiện tức tức trong ống tai rồi bắt đầu cảm giác đau tai, ngày càng tăng, đau nhức nhối, đau lan lên đầu, nhiều bệnh nhân nói có cảm giác đau giật lên nửa đầu. Biểu hiện đau càng nhiều lên khi bệnh nhân nhai hoặc ngáp. Trường hợp nặng có thể xuất hiện sốt 38 - 39ºC, sưng tấy nửa mặt bên tai đau, chạm nhẹ vào tai cũng đã đau.
    Khám thấy da ống tai ngoài đỏ, nhiều dịch bẩn ứ đọng, ống tai ngoài bị chít hẹp một phần hay toàn bộ tuỳ theo mức độ viêm, nếu độc tố vi khuẩn quá mạnh gây nên viêm tấy lan toả ống tai ngoài lan rộng làm sưng tấy cả góc hàm bên tai, đau kèm theo xuất hiện hạch nhỏ cùng bên, di động, ấn đau. Màng nhĩ vẫn bình thường.
    Cách xử trí đúng một số biểu hiện khó chịu của tai
    Khi ngứa tai, tức là ống tai ngoài đang bị tổn thương, càng ngoáy sẽ làm thương tổn lan rộng và nặng nề hơn. Lúc này nên nhỏ thuốc dùng cho tai ngoài trong vòng một tuần. Những loại thuốc nhỏ tai dùng trong trường hợp viêm ống tai ngoài là những thuốc dùng trong khi màng nhĩ không thủng, chủ yếu là những thuốc điều trị bệnh lý của ống tai ngoài như viêm ống tai ngoài, nhọt ống tai ngoài, chấn thương rách da ống tai như polydexa, thuốc sát khuẩn tại chỗ betadine... đôi khi có tác dụng giảm đau của màng nhĩ khi sung huyết trong viêm tai giữa cấp giai đoạn đầu của bệnh như otipax.
    Nếu nước vô tình vào trong ống tai khi tắm hoặc bơi gây cảm giác ù tai: lấy que tăm bông đặt nhẹ vào trong ống tai, để yên trong vòng 5 phút, nước sẽ bị bông khô tự động hút hết, tuyệt đối không nên lau chùi nhiều.
    Nếu sau khi ngoáy tai đau và chảy máu phải điều trị tại các cơ sở tai mũi họng: Đặt thuốc, nhỏ thuốc tai tại chỗ nếu viêm ống tai ngoài mức độ nhẹ. Nếu nặng phải dùng kháng sinh, kháng viêm toàn thân kết hợp với giảm đau và làm thuốc tai tại chỗ.
    Viêm ống tai ngoài là bệnh rất hay tái phát nếu vẫn giữ thói quen ngoáy tai khi ngứa.
    Mỗi bộ phận của tai ngoài giữ chức năng riêng
    Tai ngoài là bộ phận của tai (cấu tạo của tai bao gồm tai ngoài, tai giữa và tai trong). Tai ngoài – đúng như tên gọi của nó, nó nằm ngoài cùng trong ba bộ phận cấu tạo nên tai. Tai ngoài gồm có vành tai và ống tai với cấu tạo chủ yếu là sụn, xương được bao bọc bởi một lớp da và tổ chức liên kết dưới da mỏng và lỏng lẻo. Mạch máu nuôi dưỡng cho vùng này rất nghèo nàn. Thần kinh chi phối chủ yếu là nhánh tách ra từ dây thần kinh sọ số IX, dây này vừa cảm giác tai, vừa cảm giác họng nên viêm họng cũng gây ra đau tai hoặc viêm tai ảnh hưởng ngược lại chức năng nhai và nuốt, bên cạnh đó khi ngoáy tai, người bệnh cũng có cảm giác ngứa họng và ho. Tai ngoài làm nhiệm vụ hứng sóng âm thanh trong không khí để đưa vào tai giữa và tai trong. Ống tai ngoài có các tuyến tiết ra chất bã gọi là ráy tai. Ráy tai có thể khô hoặc ướt tùy từng cá thể. Ráy tai cũng có nhiệm vụ bảo vệ thành ống tai, do thành phần ráy tai có chất kháng sinh, có tính chất dính để bẫy vi khuẩn. Ráy tai phủ một lớp trên ống tai ngoài, tránh cho các vi khuẩn, nấm tấn công vào các tổ chức của ống tai ngoài.




    Đông y trị viêm họng
    Continue Reading | nhận xét

    Chữa cảm cúm, viêm đường hô hấp bằng “thảo dược tiên”


    Chữa cảm cúm, viêm đường hô hấp bằng “thảo dược tiên”
    Hoa xuyên tâm liên.
    Cây xuyên tâm liên ( XTL)... có tên khoa học là: Andrographis Paniculata, có một thời gắn bó với tủ thuốc gia đình, trạm xá và cả một số bệnh viện ở nước ta. XTL được
    dùng thay thế kháng sinh cho nhiều bệnh kèm theo sốt do cả vi khuẩn và virut. Ngày nay do thuốc kháng sinh tổng hợp dễ kiếm, XTL dần dần bị lãng quên. Trái lại, ở châu Âu, Bắc Mỹ: nhiều bác sĩ, các nhà nghiên cứu và một số hãng dược phẩm đã nghiên cứu XTL với mơ ước có được một thứ thuốc chữa bệnh tương tự dược thảo “tiên” này.
    Bộ phận dùng để chữa bệnh của XTL là tất cả phần cây ở trên mặt đất, chủ yếu là lá. Theo các tác giả phương Tây, liều dùng của XTL để chữa bệnh là từ 4-10g lá khô mỗi ngày. Ở Trung Quốc, Việt Nam, liều dùng toàn cây từ 10g-20g thuốc sắc hay 2-4g bột, 2-3 lần/ngày. Dùng ngoài không kể liều lượng. Kiêng kỵ: Mặc dù không độc, theo y học cổ truyền phương Đông XTL là vị thuốc có tính hàn, do vậy người có biểu hiện hư hàn không nên dùng với liều quá cao.
    XTL là vị thuốc bổ cho những người bị yếu toàn thân, một “thần dược” cho các bệnh kèm theo sốt, các bệnh của gan và mắt. Các thầy thuốc Ấn Độ dùng XTL trong đơn thuốc trị bệnh bạch biến, các rối loạn tiêu hóa ở trẻ nhỏ, dùng để kích thích tiêu hóa và trị các bệnh giun sán thông thường.
    Y học cổ truyền Trung Quốc nhấn mạnh đến tác dụng thanh nhiệt, thải độc của XTL, đặc biệt cho các bệnh kèm theo sốt ở đường hô hấp, tai mũi họng, đường tiết niệu,viêm ruột và dạ dày, lỵ cấp tính, bệnh viêm da, viêm họng, thanh quản và mụn nhọt...
    Chữa cảm cúm, viêm đường hô hấp bằng “thảo dược tiên”, Tai - Mũi - Họng, Sức khỏe đời sống, suc khoe, cam cum, viem duong ho hap, cay xuyen tam lien, bao

    Hoa xuyên tâm liên.
    Các thử nghiệm lâm sàng
    Kinh nghiệm dùng XTL của các bác sĩ và thầy thuốc y học cổ truyền trên khắp thế giới đã cho thấy: XTL là vị thuốc hữu hiệu để điều trị các bệnh viêm nhiễm do vi khuẩn, virut ở tất cả các bộ phận của cơ thể, cả mạn tính và cấp tính. Bốn tác dụng tiêu biểu của XTL được chứng minh trong các nghiên cứu lâm sàng cũng như theo kinh nghiệm của y học cổ truyền của nhiều dân tộc trên thế giới: Kháng viêm, thải độc, nâng cao sức đề kháng, kháng vi khuẩn, virut.
    Những nghiên cứu của các bác sĩ Thụy Điển cũng chứng minh tác dụng rất khả quan của XTL đối với các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp do vi khuẩn và virut. Hai thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên 46 và 179 bệnh nhân đã cho thấy khả năng làm giảm các triệu chứng, cũng như rút ngắn thời gian bị bệnh rất đáng kể của XTL so với thuốc giả hay các trường hợp được điều trị bằng các thuốc men thông thường. Từ các kết quả lâm sàng trên, XTL có thể dùng cho các bệnh đường hô hấp như các bệnh cảm, cúm, bệnh cúm gà, bệnh sốt xuất huyết hay bệnh viêm màng não do virut.
    Tổng kết kinh nghiệm lâm sàng của các thầy thuốc dùng XTL ở châu Âu và Bắc Mỹ cho thấy XTL có tác dụng chữa bệnh sau:
    - Tác dụng giảm đau cho đau khớp và đau do các viêm nhiễm khác.
    - Tác dụng chống đông máu, phá các cục máu đông (có thể dùng để phòng và chữa các bệnh tim mạch, tắc nghẽn mạch máu).
    - Tác dụng chống virut HIV (các bệnh nhân bị AIDS hay nhiễm HIV dùng XTL đều đặn có sự tiến bộ rất rõ ràng về sức khỏe cũng như các dấu hiệu về vi sinh, sinh hóa của bệnh nhân).
    - Tác dụng chống virut viêm gan C và herpes.
    - XTL làm nhuận tràng và có tác dụng long đờm ( có thể dùng để chữa bệnh táo bón và viêm phế quản mạn).
    - XTL có tác dụng với các bệnh viêm da, các vết thương và cho một số trường hợp phong (Leprosy).
    - Dùng dưới dạng thuốc bôi, mỡ XTL có tác dụng cho bệnh viêm quanh chân răng trong khi các thuốc kháng sinh mạnh không có hiệu quả.
    Continue Reading | nhận xét
    /

    Mẹ và Bé

    Sức khỏe sinh sản

    BỆNH GOUT

    hoanghieu.come.vn
     

    Copyright © 2011. VUHOANGHIEU.TK - All Rights Reserved
    Template Modify by vuhoanghieu Inspired
    Proudly powered by