Ung thư gan nguyên phát - Làm sao thoát khỏi tử thần


Ung thư gan nguyên phát - Làm sao thoát khỏi tử thần
Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) gần đây đã được xem như là một trong những bệnh lý ác tính đang gia tăng ở Mỹ và trên thế giới . HCC xảy ra chủ yếu ở bệnh gan mạn tính, bao gồm xơ gan và viêm gan virus mạn. Vì vậy để hạn chế ung thư gan , phải chú ý vào các đối tượng nguy cơ trên , phải theo dõi , điều trị , ngăn ngừa từ xa...
I.DỊCH TỂ
          HCC xảy ra dường như thường xuyên ở những nước đang phát triển trên khắp thể giới. Tỉ lệ cao nhất được báo cáo ở Trung Quốc, đông nam Á, và một phần Sahara châu phi. Ở những vùng này hầu hết có  liên quan đến nhiễm viêm gan virus B (HBV).  HCC thường được chẩn đoán ở lứa tuổi 30---40 ở những nước này, và hầu hết điều không tránh khỏi cái chết. Vì vậy, bệnh này có một ảnh hưởng kinh tế quan trọng, như nó ảnh hưởng đặc biệt đến những người đàn ông ở độ tuổi đang làm việc của họ.
Cho đến gần đây, HCC vẫn được coi là một bệnh hiếm hay không thường xuyên ở Mỹ, và do đó ít trung tâm có kinh nghiệm trong việc quản lý điều trị căn bệnh ác tính này. Tuy nhiên, một sự gia tăng 80%đến 90% trong tỉ lệ mắc bệnh và tử vong của bệnh này đã được quan sát hơn 2 thập niên qua ở nước này, và nhiều trung tâm chuyên về gan đã phải giải quyết với số lượng lớn những bệnh nhân HCC. Ước chừng xấp xỉ 10.000 đến 12.000 trường hợp mới xảy ra mỗi năm ở Mỹ và trong khi tỉ lệ mắc mới gia tăng ở nam giới vẫn tiếp tục, thì tuổi đỉnh điểm xảy ra HCC có thể 50—60 đã được quan sát ở những nước đang phát triển.
II.NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỐI VỚI HCC
Những yếu nguy cơ cơ bản ở Mỹ thì khác nhau hơn những vùng tỉ lệ mắc bệnh cao. Ước chừng khỏang 50% những trường hợp HCC ở Mỹ có liên quan đến nhhiễm virus viêm gan C mãn, và khỏang 15% nhiễm HBV mạn . Một số yếu tố nguy cơ  còn lại thì không được biết. Nhiều bệnh nhân HCC có xơ gan, trong một vài trường hợp liên quan với bệnh gan rượu hay (hiếm khi) một vài người được biết từ bệnh gan chuyển hóa như hemochromatosis (bệnh gan ứ sắt) hay khiếm khuyết alpha-1-antitrypsin. Gần đây , có người cho rằng một tỉ lệ đáng kể những trường hợp HCC ở Mỹ liên quan đến bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFD: noalcoholic fatty liver disease) .
Những người với yếu tố nguy cơ cao nhất của HCC bao gồm những người với xơ gan (do bất kỳ lý do nào), nhiễm HBV mạn tính với bằng chứng có tổn thương gan, hay viêm gan C mạn với xơ gan. Những yếu tố nguy cơ thêm vào có thể xảy ra bao gồm nam giới, lớn tuổi (> 45 tuổi), có sử dụng rượu có ý nghĩa hay tiền sử gia đình có HCC.
III.ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐÓAN HCC
Những đặc điểm lâm sàng điển hình của HCC bao gồm đau hạ sườn phải và sụt cân ở một bệnh nhân được biết có xơ gan. Khám bệnh, những bệnh nhân này có thể có gan lớn, sờ đau. HCC được chẩn đóan ở những cá thể không triệu chứng và được phát hiện bởi kỹ thuật hình ảnh gan như siêu âm, CT, hay MRI.  Một sinh thiết có thể cần để có sự chẩn đóan chắc chắn. Việc đo mức alpha fetoprotein (AFP) trong huýêt thanh  được dùng để bổ sung cho chẩn đóan, nhưng nó vẫn thường tăng ở   những bệnh nhân có bệnh gan mãn tính bởi viêm gan virus B, C hay những nguyên khác. Mức AFP > 400 ng/ml thì xem xét chẩn đóan HCC khi có một khối tổn thương đặc thù được tìm thấy qua những phát hiện bằng hình ảnh.
IV.NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐIỀU TRỊ ĐỐI VỚI HCC
Ngày nay có nhiều quan điểm điều trị tốt có khả năng đối với bệnh nhân HCC. Việc ghép gan xuất hiện đã giúp đưa ra tiên lượng tốt nhất cho sự sống còn của bệnh nhân, nhưng nó giới hạn đối với những bệnh nhân có khối u < 5 cm đường kính, và có ít hơn 3 khối u,  không có bằng chứng của việc di căn ngòai gan, kèm theo thể trạng còn tốt. Phẫu thuật cắt bỏ thì rất hiệu quả để tiệt trừ HCC, nhưng nó bị giới hạn bởi sự hiện diện và sự trầm trọng của bệnh gan có sẵn, và ít hơn 5% số bệnh nhân có thể chọn được phương pháp này. Vì vậy, những bệnh nhân xơ gan có thể chỉ chấp nhận được việc cắt bỏ gan ít, và việc phẫu thuật có thể khó khăn hoặc không thể nếu khối u có cả cấu trúc mạch máu chính ở trong hoặc gần gan. Thật không may, tỉ lệ phát triển của HCC mới thì hơi cao sau khi phẫu thuật cắt bỏ, có lẽ bởi vì bệnh vẫn tồn tại (xơ gan) nên gan vẫn tiếp tục có khả năng phát triển HCC mới.
Những kỹ thuật không xâm lấn được phát triển gần đây mà được coi là hiệu quả tương tự như phẫu thuật cắt bỏ khối u thì chưa được sử dụng rộng rãi. Những kỹ thuật giải quyết này bao gồm tiêm alcohol và cắt bỏ u bằng sóng radio. Việc thuyên tắc bằng cách bơm hóa chất thông qua một catheter trực tiếp vào trong động mạch cung cấp máu cho khối u gan. Sau đó động mạch này thường được bít bằng cách thuyên tắc với những cái nút được bơm thông qua cùng catheter. Ung thư tế bào gan bị đẩy lùi rõ ràng về kích thước trong quá trình điều trị thuyên tắc bằng hóa chất, và những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự sống sót của bệnh nhân được kéo dài ra khi dùng kỹ thuật này. Quan trọng là việc thuyên tắc bằng hóa chất cho thấy được hiệu quả ở những bệnh nhân không cắt bỏ được HCC. Cuối cùng, việc điều trị HCC được thành công hơn trong những năm gần đây bởi vì có sự liên kết nhiều phương pháp và nhiều bác sĩ chuyên khoa, với liên kết những bệnh viện chuyên khoa hay những tổ chức ung thư bao gồm những bác sĩ chuyên khoa gan, bác sĩ phẫu thuật, những bác sĩ chuyên khoa ung thư, và những người phụ tá trong việc ghi nhận những phức tạp trong việc điều trị những bệnh nhân này .
V.SÀNG LỌC VÀ NGĂN NGỪA HCC
Được chứng minh tốt là hình ảnh của gan với kiểm tra bằng siêu âm phối hợp với việc đo đều đặn AFP huyết thanh cho phép những chẩn đóan HCC tại giai đọan sớm, và hình thức theo dõi này đã được đưa vào trong những thực hành tiêu chuẩn. Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng rằng cứu sống được bệnh nhân HCC là có thể cải thiện cuộc sống cho bệnh nhân vì mức độ tốn kém và bệnh nhân phải đếm cuộc sống từng ngày. Tuy nhiên, những bệnh nhân được coi có nguy cơ đối với HCC thì thường được sàng lọc trong hy vọng phát hiện HCC ở giai đọan sớm khi những kỹ thuật điều trị tốt vẫn còn có khả năng.
Bởi vì nguyên nhân cơ bản của HCC thông thường đã được xác định, nên ung thư này được quan tâm đến mục đích là những nghiên cứu phòng ngừa ung thư. Trong thực tế, việc hướng dẫn rộng khắp của chương trình tiêm chủng cho trẻ em tòan cầu chống lại HBV thật sự có một tác dụng làm giảm số lượng những trường hợp HCC ở một vài nước, như Đài Loan.
Không may là không có vắc xin tương tự có tác dụng cho HCV; tuy nhiên, số lượng những trường hợp mới của nhiễm HCV đã giảm ở Mỹ hơn thập niên cuối này thông qua những phương tiện sức khỏe cộng đồng hiệu quả thay đổi. Một số lượng lớn những cá nhân với viêm gan C mạn và những bệnh gan khác vẫn duy trì yếu tố nguy cơ của HCC. Những nghiên cứu hồi cứu gần đây, hầu hết từ Nhật đã cho rằng việc dùng interferon như điều trị viêm gan C mạn tính liên quan đến việc giảm đáng kể nguy cơ ở HCC giữa những bệnh nhân đạt được đáp ứng virus  duy trì.  Những thuận lợi được đánh giá trong những nghiên cứu hồi cứu ở những đất nước phía tây. Thật thú vị, việc điều trị chống virus thời gian dài của viêm gan virus B mạn với lamivudine có thể cũng làm giảm nguy cơ HCC.
VI.TÓM TẮT- NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỰC HÀNH LÂM SÀNG
  1. HCC đang gia tăng ở Mỹ và những nước đã phát triển khác.
  2. Sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh có thể tính do bởi sự xuất hiện của viêm gan C.
  3. Những yếu tố góp phần khác có thể là sự gia tăng  nhập cư từ những nước nơi việc nhiễm HBV và HCC là thường xuyên và một sự gia tăng tỉ lệ mắc NAFLD.
  4. Những quan sát bằng hình ảnh của gan như siêu âm, CT, MRI, đại diện cho chỗ dựa chính của chẩn đoán. Mức AFP huyết thanh có thể có ích nhưng thường nhầm lẫn ở những bệnh nhân viêm gan C mạn và xơ gan.
  5. Mặc dù nó chưa là vấn đề được chứng minh, việc theo dõi đối với HCC có thể nên thực hiện ở những bệnh nhân ở nhóm nguy cơ qua việc kiểm tra siêu âm đều đặn và xác định AFP huyết thanh.
  6. Những điều trị tiềm năng đối với HCC bao gồm ghép gan, phẫu thuật cắt bỏ, loại bỏ bằng cách tiêm alcohol hay sóng radio.
  7. Vắc xin chống lại HBV được xem để ngăn ngừa HBV liên quan HCC.
  8. Điều trị thời gian dài chống virus đối với HBV  được xem là một nghiên cứu tiền cứu để giảm nguy cơ HBV liên quan đến HCC.
  9. Điều trị chống virus đối với HCC được gợi ý, nhưng chưa có chứng minh, để giảm nguy cơ HCV liên quan đến HCC. 
  10. Theo : hamengan.com.vn
Continue Reading | nhận xét

Thuốc điều trị ung thư tủy có thể chống loãng xương

Continue Reading | nhận xét

Xác định “thủ phạm” gây ung thư tủy xương

Continue Reading | nhận xét

Cách nhận biết ung thư dạ dày

 
Thực phẩm là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới căn bệnh ung thư dạ dày.
Ung thư dạ dày là căn bệnh nguy hiểm, không dễ nhận ra dấu hiệu. Cũng chính vì vậy mà rất nhiều bệnh nhân đã đến viện muộn và các bác sỹ không thể giúp họ kéo dài cuộc sống.
Nguyên nhân gây bệnh:
Trong các nguyên nhân dẫn tới căn bệnh ung thư dạ dày, thực phẩm là nguyên nhân hàng đầu. Các chuyên gia nhấn mạnh chế độ ăn quá nhiều thịt, cá hun khói hoặc cá muối sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày.

Tiếp đến là thuốc lá, nguyên nhân của rất nhiều căn bệnh ung thư, trong đó có ung thư dạ dày.

Theo thời gian, dạ dày của chúng ta sẽ xuất hiện những nốt viêm mãn tính do vi rút có tên Helicobacter pylori gây ra. Và đây chính là tiền đề của bệnh ung thư dạ dày.
Dấu hiệu nhận biết ung thư dạ dày, Sức khỏe đời sống, ung thu da day, sức khỏe, giảm cân, thiếu máu, bệnh dạ dày, bác sĩ
Triệu chứng

Do nhầm lẫn với dấu hiệu của một số căn bệnh khác, người mắc bệnh ung thư dạ dày thường đến bệnh viện khi đã ở giai đoạn cuối.

Hãy đến ngay bệnh viện khi bạn thấy những dấu hiệu dưới đây:

- Đau vùng dạ dày

- Ăn không ngon miệng- Buồn nôn

- Nôn

- Cảm giác mệt mỏi

- Giảm cân

- Thiếu máu

Khi đến khám tại bệnh viện, bệnh nhân sẽ được chỉ định nội soi dạ dày. Phương pháp này giúp cho bác sỹ nhìn thấy tường tận những nốt viêm nhiễm bên trong, sự lây lan của nó và các khối u. Tiếp đó, các bác sỹ sẽ sinh thiết tế bào dạ dày để xác định đúng căn bệnh.

Điều trị

Nếu được phát hiện sớm, việc mổ cắt bỏ khối u dạ dày sẽ giúp cho bệnh nhân kéo dài cuộc sống vài năm. Ngoài ra, các biện pháp khác đi kèm trong quá trình điều trị là trị xạ, truyền hoá chất,...
Continue Reading | nhận xét

Đề phòng biến chứng của u xơ tử cung

 

UXTC có thể nằm trong thành tử cung hay dưới nội mạc tử cung. Khi u còn nhỏ, đa phần không có triệu chứng rõ ràng nên bệnh nhân thường chủ quan. Một số biểu hiện có thể thấy như: chảy máu tử cung, rong kinh kéo dài, ra nhiều khí hư; u xơ lớn có thể dẫn tới hậu quả: chèn ép bàng quang gây tiểu nhiều hoặc bí tiểu; chèn vào trực tràng gây táo bón; chèn ép niệu quản gây ứ nước đài bể thận; chèn vào dây thần kinh và tĩnh mạch chủ gây phù hai chân. Tình trạng rong kinh, rong huyết kéo dài còn gây thiếu máu, xanh xao, suy kiệt sức khỏe.


Nguy hiểm hơn, UXTC còn có thể gây khó có thai, thậm chí vô sinh ở nhiều trường hợp. Khối u ngăn cản sự thụ thai và làm tổ của trứng trong tử cung, ảnh hưởng đến sự di chuyển của tinh trùng. Khi đã thụ thai, u thường to lên và có thể gây sảy thai, sinh non, lệch ngôi thai vào những tháng cuối của thai kỳ, gây đẻ khó, băng huyết sau sinh. Tuy nhiên, sau mãn kinh, UXTC có thể tự teo đi.
Ảnh minh họa

Trong điều trị UXTC, khi khối u còn nhỏ, bác sĩ có thể chỉ định cho bệnh nhân dùng thuốc nội tiết hoặc thuốc tránh thai ở những phụ nữ trẻ tuổi, chưa sinh đẻ và chỉ uống nếu bị rong huyết, rong kinh. Tuy nhiên, thuốc có thể gây một số tác dụng phụ như: teo da, khô da, rối loạn kinh nguyệt, giảm ham muốn tình dục… Ngoài ra, khi u đã lớn hoặc đe dọa biến chứng, gây khó khăn cho việc có thai thì bệnh nhân cần can thiệp ngoại khoa. Phẫu thuật bảo tồn như: mổ bóc tách u, giữ tử cung… được chỉ định cho phụ nữ còn trẻ, chưa có con hay vẫn còn nhu cầu sinh đẻ. Bên cạnh đó, phương pháp làm thuyên tắc động mạch nuôi khối u (làm khối u tự teo đi) cũng được áp dụng. Phương pháp này được cho là khá hiệu quả và ít xâm lấn. Tuy nhiên, sau phẫu thuật, tỷ lệ UXTC tái phát khá cao, do đó cần cân nhắc dùng thuốc bổ sung để ngăn chặn tái phát.

Hiện nay, nhiều bác sĩ và bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, hiệu quả bền vững, không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài để hỗ trợ điều trị, phòng ngừa, ngăn chặn biến chứng của UXTC, mà Nga Phụ Khang là sản phẩm tiên phong trong số đó. Sản phẩm đã mang lại tin vui cho nhiều bệnh nhân, điển hình như trường hợp của chị Lường Thị Thủy ở tỉnh Sơn La. Mắc UXTC, chị bị rong kinh, rong huyết, người mệt mỏi. May mắn đã đến khi chị biết tới Nga Phụ Khang và mua về sử dụng: “Tôi mới chỉ dùng được 2 hộp Nga Phụ Khang thì tình trạng rối loạn kinh nguyệt đã chấm dứt hẳn, cơ thể khỏe hơn. 3 tháng sau khi dùng sản phẩm, tôi đi khám lại thì khối u đã thu nhỏ hẳn, gần như không nhìn thấy gì nữa” – chị Thủy chia sẻ.
Trong điều trị UXTC, phẫu thuật là cách cuối cùng được bác sĩ đưa ra khi các phương pháp khác không còn phát huy tác dụng. Uống Nga Phụ Khang hàng ngày, kết hợp với giữ tâm lý thoải mái, tránh căng thẳng, mệt mỏi… được xem là phương pháp điều trị đơn giản, đem đến hiệu quả tốt, phòng ngừa biến chứng cho bệnh nhân UXTC.
Continue Reading | nhận xét

Ung thư vú: Nguyên nhân, dấu hiệu, cách phòng và điều trị

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) vào năm 1998 thì ung thư vú đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới.
Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ là 92,04 (trên 100 000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100 000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới.
Ung thư vú đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100 000 dân) và cao thứ hai ở Thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100 000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100 000 dân)
Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UNG THƯ VÚ:

Theo UICC thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. 3. Còn theo 1 thì nguy cơ tương đối của ung thư vú giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là ung thư vú ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần. Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ.
Yếu tố gia đình:
Gen Ung thư vú có thể Di truyền cho con qua đuờng bố hoặc Đường mẹ. Những phụ nữ mà trong Gia đình có nhiều người bị ung thư vú, hoặc có 2 người rất gần, tức mẹ và chị gái, bị bệnh, thì có thể có nguy cơ thừa hưởng gen bệnh. Khi nhận phải gen bệnh, người phụ nữ có khoảng 85% mắc ung thư vú.

Ăn nhiều mỡ

Tần suất mắc Bệnh ung thư Vú ở từng quốc gia tương ứng với lượng mỡ trong Chế độ ăn của quốc gia đó. Ở Nhật, ung thư Vú là một trong những bênh tiến triển nhanh nhất, vá sự tăng tỷ lệ bệnh có liên quan chặt chẽ đến thói quen ăn này càng nhiều mỡ hơn. Chế độ ăn tốt nhất để Phòng ngừa Ung thư vú là chế độ ăn trong đó lượng mỡ ăn vào ít hơn 20% tổng số calorie nhận được.
Hormone và thể hình
Phụ nữ thừa cân thuộc dạng nội hình (hình quả táo) tích trữ mỡ thừa ở vùng bụng và các cơ quan nội tạng, có nguy cơ ung thư vú cao hơn những phụ nữ thừa cân dạng trung bình (hình quả lê) trữ mỡ thừa ở hông và đùi, hoặc dạng ngoại thái (hình cọng giá). Liệu pháp hormone thay thế, trong đó người phụ nữ dùng Thuốc có chứa oestrogen sẽ làm thay đổi nồng độ hormone và có thể làm tăng nguy cơ ung thư ở một số ít người. Hành kinh sớm; không Có con hoặc có con muộn, và mãn kinh trễ cũng có thể làm tăng nguy cơ.
Nguy cơ từ môi trường sống:
Hút thuốc, ô nhiễm công nghiệp, khói xe và hoá chất như các thuốc nông nghiệp dính trên thức ăn đều được xem là có vai trò quan trọng trong việc phát triển ung thư vú.
Người ta nhận thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên ở những bệnh nhân sau:
Yếu tố Nguy cơ thấp Nguy cơ cao
Tuổi 30–34 70–74
Lần đầu có kinh >14 <12
Thuốc tránh thai Không dùng Có dùng
Tuổi có con lần đầu <20 ≥30
Thời gian cho con bú ≥16 0
Số lần sinh con ≥5 0
Tuổi khi cắt buồng trứng <35 Không cắt
Tuổi mãn kinh <45 ≥55
Dùng estrogen thay thế Không dùng Đang dùng
BMI cơ thể sau mãn kinh <22,9 >30,7
Tiền sử gia đình có người bị K vú Không Có
Nồng độ estradiol trong máu Thấp Cao
Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau:
  • Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu
  • Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa
  • Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống ung thư vú ở các phụ nữ trẻ.
  • Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

II. DẤU HIỆU BỆNH UNG THƯ VÚ:

Ung thư vú đã vượt qua ung thư cổ tử cung, trở thành loại ung thư hàng đầu ở nữ giới. Phần lớn u xảy ra ở phụ nữ độ tuổi 35-45, hiếm khi xảy ra dưới tuổi 30.
Sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra các nguyên nhân chủ yếu làm tăng nguy cơ mắc bệnh này là: tiền sử gia đình bị ung thư vú; có vài xáo trộn của tuyến vú; sự đột biến của một số gene; chịu tác động lâu dài của oestrogen ( phụ nữ có kinh trước 12 tuổi và mãn kinh sau 55 tuổi); dùng thuốc nội tiết trong thời gian dài; không sinh con hoặc có con đầu lòng sau 30 tuổi; không cho con bú mẹ; hút thuốc lá và uống rượu; ăn nhiều thịt, chất béo; cơ địa béo phì.
Đa phần ung thư vú được chính người bệnh phát hiện, khi họ nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú.
Ở giai đoạn sớm, bệnh thường không có các biểu hiện rõ rệt và không gây đau đớn cho người bệnh. Khi khối u tiến triển, người bệnh sẽ thấy có các triệu chứng sau: khối u cứng, không đau, không đồng nhất, bờ không rõ, dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động; vú to ra hoặc có thay đổi hình dáng của vú, núm vú bị lún hoặc xù xì, chảy máu; da vùng vú dày lên hoặc thay đổi màu sắc, sần sùi như vỏ quả cam…
Khi thấy có bất cứ dấu hiệu nào kể trên, chị em nên đến ngay chuyên khoa ung bướu để khám. Càng phát hiện sớm bao nhiêu thì khả năng chữa trị càng hiệu quả bấy nhiêu. Đối với các bệnh nhân có khối u vùng vú bị nghi ngờ ung thư, bác sĩ thăm khám toàn bộ để đánh giá cục u là lành tính hay ác tính và cho thực hiện các xét nghiệm để phân biệt khối u đó là dạng khối lỏng hay khối đặc (lành hoặc ác), sinh thiết để có đánh giá chính xác nhất.
Khi đã xác định khối u đó là ác tính, thầy thuốc sẽ tiến hành các xét nghiệm đặc biệt để biết bản chất của ung thư, biết ung thư còn tại chỗ hay đã xâm lấn sang các mô lân cận. Khoảng 95% các trường hợp ung thư vú đều là dạng xâm lấn.
Căn cứ theo mức độ phát triển và xâm lấn của khối u, người ta chia thành 3 nhóm để áp dụng phương pháp điều trị phù hợp: Nhóm 1: khối u dưới 2cm, không thấy hạch nách và không có di căn xa; nhóm 2: khối u lớn hơn 2cm, có hoặc không có hạch nách, chưa có di căn xa; nhóm 3: ung thư ăn lan tại chỗ rất nhiều hoặc các ung thư có di căn xa.
Với tiến bộ của y học, việc điều trị bệnh cho kết quả khả quan: Tỷ lệ khỏi bệnh 5 năm như sau: nhóm một khoảng 80-90%, nhóm hai khoảng 40-75%, nhóm ba khoảng 15%. Tuy nhiên, muốn kết quả điều trị tốt, sau đợt điều trị, người bệnh cần phải đi khám định kỳ 2 – 3 lần mỗi năm để thầy thuốc nắm được diễn tiến của bệnh, nếu có di chứng và biến chứng sẽ kịp thời xử trí.
Chị em cũng nên tự khám vú để phát hiện sớm bệnh theo cách sau:
- Đứng trước gương, ở trần, cánh tay buông xuôi hai bên hông, rồi đổi tư thế: hai tay để phía sau mông, nghiêng nhẹ người tới trước. Quan sát cả hai vú xem có thay đổi gì về kích thước (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), da vú (da cam, da lõm xuống). Ấn nhẹ núm vú xem có máu hoặc chất dịch tươm ra ở đầu vú không.
- Nằm ngửa, kê gối hoặc khăn xếp lại dưới vai bên phải, tay phải để sau gáy, dùng các ngón tay trái (bàn tay xòe thẳng), nhẹ nhàng ép sát tuyến vú vào thành sườn, bắt đầu từ phần trên, rồi đến phần dưới vú, cuối cùng là núm vú, nhằm tìm một cục u (khối u, khối bướu). Khi khám vú trái thì đổi ngược tư thế.
- Khám vùng nách để tìm hạch.
Nên khám khi đã sạch kinh, vú ít căng, phải dùng bàn tay xòe với các ngón tay thẳng đè tuyến vú áp vào thành sườn, lần lượt rà khắp cả tuyến vú, nếu thấy có cục cộm rõ thì mới đúng là cục u.

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH UNG THƯ VÚ

Các tình huống lâm sàng
Thường gặp
Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ.
Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính.
Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính:
  • Cứng
  • Không đau (chiếm khoảng 85–90%)
  • Không đồng nhất, bờ không rõ
  • Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động
  • Núm vú bị co kéo
  • Chảy máu

Tình huống trễ

Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa:
  • Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính
  • Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở
  • Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp…
  • Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương
  • Bụng: gan to, [báng bụng], …
  • Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân…
Tầm soát ung thư vú
Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát ung thư vú:
  • Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sỹ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế nhũ ảnh ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện nhũ ảnh.
  • Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.
  • Nhũ ảnh: Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Nhũ ảnh đóng vai trò quan trọng trong tầm soát ung thư vú. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng nhũ ảnh giúp giảm tử suất của ung thư vú khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Hội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp nhũ ảnh mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi.
Xét nghiệm cận lâm sàng
  1. Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu.
  2. Sinh thiết trọn khối bướu: thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối bướu ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao.
  3. Chụp nhũ ảnh
  4. Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ.
  5. Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán ung thư vú, nhưng ở Việt Nam ít dùng như cắt lớp điện toán CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI, …
  6. Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,… Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam.

IV. ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA UNG THƯ VÚ:

Ung thư tại chỗ
  • Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%.
  • Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ: bệnh nhân thường được theo dõi sát có thể kết hợp với hóa trị phòng ngừa (như dùng tamoxifen) và làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân.
Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA
Phẫu thuật
Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh.
Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1-2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ.
Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này:
  • Có hai hoặc nhiều khối bướu nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú
  • Bướu lan tỏa, giới hạn không rõ
  • Bướu to nằm trong tuyến vú nhỏ
  • Bướu nằm ở vị trí trung tâm của vú
Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng.
Xạ trị hỗ trợ
  • Xạ trị là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn: tiến hành sau phẫu thuật cắt bướu. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát.
  • Xạ trị sau đoạn nhũ: giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có bướu nguyên phát to,…

Liệu pháp toàn thân

Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn.
  • Liệu pháp nội tiết
    • Cắt buồng trứng
    • Tamoxifen: là các chất ức chế thụ thể estrogen chọn lọc. Dùng cho các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính. Có tác dụng giảm nguy cơ tái phát và giảm xuất độ ung thư vú đối bên khoảng 50%.
  • Hóa trị hỗ trợ
  • Kết hợp cả hóa trị và liệu pháp nội tiết
Điều trị hỗ trợ đối với ung thư vú có hạch dương tính (di căn hạch)
Tiền mãn kinh, Thụ thể Estrogen(ER) + hoặc thụ thể Progesteron (PR) + :
Hóa trị + Tamoxifen
Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen
Hóa chất +/- Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen
Trước mãn kinh, ER – và PR -: Hóa trị
Sau mãn kinh, ER-,PR+: Hóa trị, Tamoxifen
Sau mãn kinh, ER – và PR -: Hóa trị
Người già: dùng Tamoxifen, nếu không có ER và PR thì dùng hóa trị
(ER: Thụ thể Estrogen, PR: Thụ thể Progesterone, GnRH (Gonadotropin releasing hormone): Nội tiết kích thích tiết kích dục tố)
Ung thư di căn
Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống.
Phẫu thuật
Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi,…
Xạ trị
Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ được…
Liệu pháp toàn than
Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di căn….
Liệu pháp toàn thân bao gồm:
  • Liệu pháp nội tiết: thường dùng cho phụ nữ mãn kinh, có thụ thể estrogen dương tính.
Các loại thuốc thường áp dụng: kháng estrogen (Tamoxifen), ức chế enzyme aromatase (Anastrozole, letrozole…), dùng các thuốc tương tự GnRH, các progestin.
  • Hoá trị: thường dùng cho những bệnh nhân nào mà căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển dù đã điều trị nội tiết, hoặc bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Có nhiều phác đồ thường dùng như: CA, CAF, CMF…
  • Trastuzumab: Là kháng thể đơn dòng kháng lại thụ thể tăng trưởng biểu bì – HER2/neu
  • Cắt buồng trứng
Tiên lượng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể.
Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu.
Gần đây, người ta đề cập đến yếu tố thụ thể nội tiết của bướu. Thông thường, bướu có thụ thể nội tiết dương tính hay đáp ứng tốt với điều trị và cho tiên lượng tốt hơn. Ngoài ra, ở những tuyến vú có thụ thể tăng trưởng biểu bì HER2/neu dương tính, thì bệnh thường tiến triển nhanh và cho tiên lượng xấu.
Phòng ngừa ung thư vú:
Ung thư vú rất đáng quan tâm vì đó là một trong những loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Nhiều biện pháp đã được đề xuất để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, một số biện pháp dưới đây rất đáng chú ý:
Continue Reading | nhận xét

Bệnh ung thư vòm họng: Triệu chứng, nguyên nhân, cách phòng và điều trị


 

Vòm họng còn gọi là họng mũi, thuộc lá thai trong có cấu trúc là một hình hộp có sáu mặt. Mặt trước là cửa mũi sau, mặt sau là niêm mạc họng và cân quanh họng, hai bên là loa vòi nhĩ, mặt trên là bờdưới của thân xương bướm và mảnh nền của xương chẩm, mặt dưới thông với họng miệng.
Ung thư vòm họng liên quan nhiều đến yếu tố môi trường, tình trạng ô nhiễm, bụi, khói… và tập quán ăn uống (ăn cá muối, tương, cà và những chất mốc… do những thứ này chứa nitrosamine – chất gây ung thư); do virut Epstein Barr (EBV); do yếu tố gen di truyền.
Tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân gây bệnh do nhiều yếu tố cùng tác động gây nên. Khi bị ung thưvòm mũi họng ở giai đoạn đầu thường có biểu hiện đau nửa đầu, từng cơn hoặc âm ỉ, dùng thuốc giảm đau không có tác dụng. Giai đoạn khu trú thường có các triệu chứng thần kinh (đau nửa đầu, đau sâu trong hốc mắt), triệu chứng mũi xoang (ngạt tắc một bên mũi, chảy nước mũi nhầy, thỉnh thoảng có lẫn máu), triệu chứng tai (ù tai, nghe kém, có thể viêm tai giữa cùng bên do bội nhiễm), xuất hiện hạch cổ và hạch dưới hàm. Giai đoạn di căn thể trạng đã suy giảm, kém ăn, mất ngủ, gầy sút, thiếu máu, da màu vàng rơm, hay bị sốt do bội nhiễm kèm theo các triệu chứng khác theo hướng lan của khối u.

I. TRIỆU CHỨNG BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG:

Nếu bạn thấy chảy máu cam, nghẹt mũi, ù tai, nhức đầu… là những biểu hiện thường thấy của bệnh ung thưvòm họng. Bạn nên đến bệnh viện đểkiểm tra, phát hiện và điều trịsớm bệnh đểcơhội sống cao hơn.
Chảy máu cam là một trong những triệu chứng sớm nhất của ung thư vòm họng
Tế bào ung thư vòm họng phát sinh từ các lớp trên của niêm mạc mũi họng, giai đoạn đầu bệnh không có triệu chứng rõ ràng, trong quá trình chẩn đoán lâm sàng cũng rất khó phát hiện ra bệnh.
Các triệu chứng sớm của ung thư vòm họng, ngoài hiện tượng ù tai hoặc đau nửa đầu, cơ bản không có hiện tượng khác. Khi đã di căn, khối u lấn sang các vùng xung quanh, bề mặt khối u bị loét, chảy máu, chảy mũi nhầy lẫn máu; hoặc khối u làm tắc nghẽn mũi, gây ngạt mũi, ù tai, tức như bị nút ráy tai, nghe kém.
Một số bệnh nhân bị nhức đầu, đau nửa đầu, đau sâu trong hốc mắt, vùng thái dương, đau từng cơn hoặc âm ỉ, các triệu chứng ở tai và mũi xuất hiện nhiều hơn. Do triệu chứng của người mắc ung thư vòm họng không điển hình và tương đối giống với các bệnh tai mũi họng thông thường, vì vậy việc phát hiện bệnh sớm là tương đối khó khăn.
Nếu xuất hiện một trong những triệu chứng dưới đây, bạn hãy cảnh giác:
Triệu chứng của ung thư vòm họng, Sức khỏe, Ung thu vom hong, hong, nhuc dau, ngat mui, ung thu, chay mau, u tai, di can
1. Chảy máu cam
Là một trong những triệu chứng sớm nhất của ung thư vòm họng, nước mũi chủ yếu chảy ra từ một bên có kèm theo máu. Hầu hết bệnh nhân thường nuốt nước mũi và nhổ ra theo đường miệng khiến vì vậy khiến nước mũi kèm theo máu dễ bị chẩn đoán nhầm hoặc bị bỏ qua. Giai đoạn cuối có thể gây chảy máu liên tục.
2. Nghẹt mũi
Sau khi xuất hiện khối u, sẽ có hiện tượng tắc 1 bên mũi, khi khối u to lên sẽ khiến 2 bên đều bị nghẹt.
3. Ù tai và nghe kém
Khối u cản trở và đè lên thực quản, đồng thời gây ù tai, nghẹt tai, nghe kém hoặc kèm theo tràn dịch tympanic.
4. Nhức đầu
Thường do khối u phá hủy nền sọ, dẫn đến di căn vào não và dây thần kinh sọ. Ở kỳ cuối, dễ bị chẩn đoán nhầm là đau thần kinh.
Triệu chứng của ung thư vòm họng, Sức khỏe, Ung thu vom hong, hong, nhuc dau, ngat mui, ung thu, chay mau, u tai, di can
Khối u ở vòm họng gây đau nhức đầu, dễ bị chẩn đoán nhầm là đau thần kinh. (ảnh minh họa)
5. Nổi hạch ở cổ
Theo thống kê, ung thư vòm họng di căn phần cổ chiếm 40-85%. Do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phong phú, các tế bào ung thư dễ dàng lan sâu lên trên cổ muộn hơn phát triển vào trong, xuống dưới, ra phía trước và hai bên. Khi phát triển số lượng càng nhiều , tốc độ càng nhanh, hạch cứng và không cho cảm giác đau đớn, tính hoạt động kém; vào giai đoạn cuối sẽ bám dính cố định
6. Hội chứng nội sọ
Khối u trong não bị vỡ lan sang các dây thần kinh sọ não gây ra các hội chứng nội sọ như nhức đầu, tê bì mặt, mờ mắt, xệ mí, lác trong, thậm chí mù. Hạch bạch huyết di căn xuyên qua các dây thần kinh sọ não ở nền sọ dẫn đến mất cảm giác ở cổ họng, vòm miệng tê liệt, nhai nuốt khó khăn, khàn giọng, liệt màn hầu.
7. Di căn
Trong giai đoạn cuối, ung thư vòm họng di căn ở phạm vi mắt, não, xương, phổi, gan và các bộ phận khác, đặc biệt là ở phổi và xương. Nếu người bệnh phát hiện triệu chứng nặng ở bộ phận nào, như một số bộ phận xương cố định bị đau, máu có đờm, thường xuyên đau ngực, gan sưng to, nhãn cầu lồi, thị lực giảm…cho thấy bệnh đã di căn.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ VÒM HỌNG

Nguyên nhân chính xác dẫn đến ung thưvòm họng vẫn chưa được biết nhưng các nhà khoa học đã khẳng định một sốyếu tốliên quan nhưmôi trường, do virut Epstein Barr (EBV), do di truyền hoặc kết hợp cảnhững lý do trên. Độtuổi mắc bệnh thường từ20 – 65 tuổi, nam nhiều hơnnữ.
1. Yếu tố di truyền
Từ chỗ nhận xét ung thư vòm có mức độ tần suất khác biệt giữa các dân tộc khác nhau trên thế giới người ta cho rằng nguyên nhân của K vòm có liên quan đến yếu tố di truyền dựa trên hệ kháng nguyên HLA. Nếu cha hoặc mẹ bạn đã từng bị ung thư vòm thì khả năng bạn bị ung thư vòm sẽ cao.
2. Virus hướng lymphô Epstein Barr
là loại virus người, thuộc nhóm Herpes, là nguyên nhân gây u lympho Burkitt ở Châu phi. Gần đây người ta nhận thấy EBV có mặt thường xuyên (100%) ở bệnh tích K vòm.
3. Yếu tố thuận lợi
4. Môi trường
Tiếp xúc với hơi các hóa chất độc, thuốc trừ sâu, phóng xạ…Điều kiện sống thấp.
5. Tập quán
Thói quen hút thuốc lá, uống rượu. Thói quen ăn các thức ăn làm dưa, làm mắm; chiên nướng, thức ăn có thầu dầu, thức ăn ẩm mốc. Thắp nhiều hương khói. Người ta nhận thấy nồng độ Nitrosaminecủa những người K vòm cao hơn ở người bình thường
6. Nitrosamin = Nitrit + amine
Nitrit có nhiều trong các loại củ cải, cải bẹ, cải bắp khi muối dưa nhờ sự lên men sẽ chuyển nitrat thành nitrit.

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG

Trước một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghi ngờvà được khám tỉmỉvòm họng đó là: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thểthấy một tổchức sùi mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễchảy máu.
Sinh thiết khối u, chẩn đoán giải phẫu bệnh lý: là yếu tốchẩn đoán xác định.
Chẩn đoán tế bào học:có ý nghĩa định hướng (tế bào tại vòm họng hoặc tại hạch cổ).
Chẩn đoán huyết thanh: phương pháp này dựa vào mối liên quan của EBV với UTVH, có thể tiến hành trên hàng loạt người để phát hiện sớm ngay khi triệu chứng lâm sàng chưa rõ. Nhưng cũng không có giá trị chẩn đoán xác định mà vẫn phải dựa vào kết quả giải phẫu bệnh lý.
Chẩn đoán X- quang.
-          Tư thế Hirtz.
-          C.T.Scan vùng vòm họng, nền sọ: đánh giá sự lan tràn và phá hủy của khối u lên nền sọ.
Chẩn đoán phóng xạ: có thể chẩn đoán sớm được kích thước khối u, chẩn đoán được tình trạng di căn xa của bệnh.
Chẩn đoán giai đoạn
Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC – Union internationale contre le cancer) – 1987 xếp loại giai đoạn UTVH.
Phân loại T.N.M
-          T (Tumor): khối u nguyên phát.
  • Tx: không rõ khối u.
  • Tis: (insitu) khối u nhỏ khu trú dưới niêm mạc.
  • To: không có u (soi vòm chưa thấy khối u)
  • T1: khối u khu trú ở 1 vị trí giải phẫu.
  • T2: khối u đã lan ra 2 vị trí khác.
  • T3: khối u lan vào hốc mũi, xuống dưới màn hầu.
  • T4: khối u đã phá huỷ xương nền sọ hoặc gây tổn tương các dây thần kinh sọ não.
-          N (Node):hạch cổ.
  • No: không sờ thấy hạch cổ.
  • N1: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 3 cm.
  • N2: hạch cổ phân làm 3 mức.
  • N2a: một hạch cổ, cùng bên, di động, KT: 3 – 6 cm
  • N2b: nhiều hạch cổ, cùng bên, di động, KT< 6 cm
  • N2c: hạch cổ 2 bên hoặc đối bên, di động, KT< 6 cm
  • N3: hạch cổ đã cố định (kể cả hạch cổ 1 bên) hoặc KT> 6 cm.
-          M (Metastasis):di căn xa.
  • Mo: chưa xuất hiện di căn xa.
  • M1: đã xuất hiện di căn xa (căn cứ vào X-quang và siêu âm để chẩn đoán).
  • Phân loại giai đoạn lâm sàng.
  • Giai đoạn I: T1NoMo
  • Giai đoạn II: T2NoMo
  • Giai đoạn III: T3NoMo, T1-3N1Mo
  • Giai đoạn IV: T4No-1Mo, N2-3Mo và các T
  • M1 (các T và các N).
Chẩn đoán phân biệt.
-          U xơ vòm mũi họng.
-          Polype mũi sau.
-          Tồn dư tổ chức V.A.

IV. DIỄN BIẾN BỆNH UNG THƯ VÒM HỌNG:

4.1. Giai đoạn đầu.
Khu trú, tiến triển chậm, ít ảnh hưởng tới toàn thân, thường kéo dài 1- 2 năm nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời đúng phác đồ có thể khỏi bệnh.
4.2. Giai đoạn lan tràn.
Ảnh hưởng tới toàn thân rõ, tiến triển nhanh thường tử vong do khối u lan lên nền sọ, do di căn tới các phủ tạng nhưphổi, gan, xương.

V. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG:

Do khối u nằm trong hốc sâu, gần nền sọ, nên điều trị khó khăn, kết quả bị hạn chế, tiên lượng xấu..
Xạ trị.
CO 6olà biện pháp điều trị chủ yếu và cho kết quả khả quan nếu bệnh nhân đến sớm, nhất là đối với thể ung thưbiểu mô không biệt hoá.
U nguyên phát được tia vào vùng cổ bên, với liều 65 – 70 Gy trong vòng từ 6 đến 7 tuần.
Các hạch cổ  hoặc dưới hàm được tia với liều 50Gy trong thời gian 6 đến 7 tuần.
Cắm kim vào u và hạch trong trường hợp xạ ngoài đã đủ liều nhưng khối u chưa hết.. Phẫu thuật: phẫu thuật nạo vét hạch cổ trước hoặc sau xạ trị.
Hoá trị liệu:chỉ áp dụng với thể ung thưbiểu mô không biệt hoá hoặc hạch cổ đã lan rộng và có di căn xa..
Miễn dịch trị liệu:
Tác dụng tăng sức đề kháng và hỗ trợ trong xạ trị.
6. Phòng bệnh ung thưvòm mũi họng.
Hiện nay người ta cho rằng: 70 % nguyên nhân ung thưdo yếu tố ngoại lai, còn 30% do yếu tố nội tại và do yếu tố di truyền cho nên: phải có chế độ ăn hợp lý: giảm mỡ động vật, ít ăn thịt thay bằng rau hoa quả có nhiều Vitamin C, E.
Continue Reading | nhận xét

Bệnh ung thư tinh hoàn: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Bệnh ung thư tinh hoàn phần lớn chỉxảy ra đối với những người đàn ông da trắng và có rất ít trường hợp người châu Phi và châu Á bịmắc phải bệnh này. Bệnh này phổbiến ởnhững người đàn ông ởđộtuổi từ 20 đến 34 và được xem là một trong những loại bệnh ung thưcó thểchữa khỏi, nếu được phát hiện sớm.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UNG THƯ TINH HOÀN:

Hiện nay, y học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra bệnh ung thư tinh hoàn, tuy nhiên có một vài trường hợp có thể gia tăng nguy cơ ung thư như là:
- Gia đình có tiền sử bị ung thư tinh hoàn.
- Bị chấn thương ở vùng tinh hoàn.
- Bị viêm tinh hoàn do bị quai bị trong tuổi dậy thì.
- Những người có tinh hoàn ẩn: đây là tình trạng tình hoàn không nằm trong bìu mà nằm trong ổ bụng (thông thường ở giai đoạn bào thai hay trong 3 tháng đầu sau khi sinh, tinh hoàn của các bé trai sẽ di chuyển từ ổ bụng xuống bìu).
- Có tinh hoàn nhỏ hay tinh hoàn không có hình dạng bình thường.
-  Những người bị hội chứng rối loạn nhiễm sắc thể giới tính (thông thường nam giới nhận 1 nhiễm sắc thể X từ người mẹ và 1 nhiễm sắc thể Y từ người cha, nhưng những người bị rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thì lại có 1 nhiễm sắc thể Y và từ 2 nhiễm sắc thể X trở lên.
- Nam giới da trắng có nguy cơ bị ung thư tinh hoàn gấp 5 lần so với nam giới da đen. Bệnh thường gặp ở thanh niên các nước Bắc Âu hơn là Nam và Trung Âu.
- Người ít chơi thể thao cộng với lối sống lười vận động cũng liên quan đến nguy cơ tăng bệnh ung thư tinh hoàn.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA UNG THƯ TINH HOÀN:

- Mọc u bướu nhỏ không đau ở vùng tinh hoàn.
- Tinh hoàn to hơn bình thường.
- Đau bên trong tinh hoàn.
- Ngực và núm vú nam giới to hơn bình thường
- Máu và chất lưu nhiều bất thường ở vùng bìu dái.
TỰ KIỂM TRA TINH HOÀN:
Tự kiểm tra tinh hoàn là phương pháp nam giới tự kiểm tra tinh hoàn của mình để đảm bảo chắc rằng không có dấu hiệu gì bất thường của ung thư.
Ung thư tinh hoàn có thể lan rộng ra các cơ quan gần đó vì thế phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường rất quan trọng.
Cách kiểm tra:
- Kiểm tra vùng tinh hoàn ngay sau khi tắm bằng nước ấm khi da vùng bìu đang mềm.
- Đặc biệt chú ý đến kích cỡ, hình dáng và độ lớn của tinh hoàn.
- Dùng 2 tay nhẹ nhàng đưa đi đưa lại các viên tinh hoàn.
- Phát hiện mào tinh hoàn là để xem có u bướu gì bất thường không.
- Nên cảnh giác với những cục nhỏ dưới da như mụn cơm trước hoặc dọc theo tinh hoàn.
- Nếu tinh hoàn bị sưng, có u cục nên đi kiểm tra chuyên khoa để có những tư vấn kịp thời vì ung thư tinh hoàn được phát hiện sớm thì thành công trong điều trị rất lớn.

III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH UNG THƯ TINH HOÀN:

Hầu hết các trường hợp mắc bệnh ung thư tinh hoàn đều được phát hiện thông qua kiểm tra sức khỏe tổng quát. Nếu các bác sĩ chuyên khoa yêu cầu bạn tiến hành kiểm tra tinh hoàn thì những test sau có thể xác định chính xác tình trang hiện tại của bạn:
  • Siêu âm tinh hoàn.
  • Chụp cắt lớp (chụp CT).
  • Kiểm tra các chất chỉ thị ung thư thông qua xét nghiệm máu.
Nếu các kiểm tra trên cho thấy tinh hoàn có khối u thì bước tiếp theo mà các bác sĩ sẽ làm là tiến hành sinh thiết tinh hoàn. Thông qua việc quan sát các mẫu mô lấy từ tinh hoàn, các bác sĩ sẽ xác định được khối u trong cơ thể bạn là lành tính hay ác tính và đề ra biện pháp chữa trị thích hợp. Đối với những bệnh nhân đã xác định là bị ung thư tinh hoàn thì cần phải được phẫu thuật ngay vì việc sinh thiết sẽ khiến cho các tế bào ung thư di căn rất nhanh.

IV. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TINH HOÀN:

Quá trình điểu trị sẽ tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân, nhưng những phương pháp chính dùng để điều trị ung thư tinh hoàn gồm có:
  • Cắt bỏ toàn bộ phần bị ung thư.
  • Tiến hành hóa trị để tiêu diệt tận gốc các tế bào ung thư còn xót lại.
  • Xạ trị nhằm làm giảm kích thước ung thư trước khi giải phẫu hay tiêu diệt những tế bào ung thư xót lại sau cuộc giải phẫu.
Những ảnh hưởng của bệnh ung thư tinh hoàn:
Các nhà khoa học cho rằng ung thư tinh hoàn là một loại ung thư có thể chữa trị được cho dù được phát hiện sớm hay muộn; và đối với hầu hết các trường hợp phải phẫu thuật thì việc cắt bỏ ‘tinh hoàn’ hoàn toàn không ảnh hưởng đến khả năng làm chồng, vì vậy các quý ông không cần lo lắng về vấn đề này.
Sau khi cắt bỏ tinh hoàn bị ung thư, một số người đã chọn giải pháp cấy tinh hoàn giả vào trong bìu để bộ phận sinh dục ngoài trông được tự nhiên.
Không giống như các loại ung thư khác, các tế bào ung thư tinh hoàn phát triển chậm và phản ứng theo hướng tốt khi được hóa trị và xạ trị. Tuy nhiên các phương pháp này có thể gây ra tác dụng phụ và những tác dụng phụ này sẽ kéo dài trong suốt quá trình điều trị.
PHÒNG BỆNH UNG THƯ TINH HOÀN:
Dù cho phương pháp chẩn đoán và điều trị có hiệu quả đến đâu thì việc phát hiện sớm bệnh đóng vai trò quan trọng. Chính vì vậy chúng ta cần lưu tâm một số biện pháp phòng bệnh. Đối với các gia đình mới sinh em bé, cần kiểm tra ngay xem có dị tật bẩm sinh về tiết niệu sinh dục hay không? Quan trọng nhất là xem 2 tinh hoàn có nằm trong bìu hay ở vị trí khác? Gặp trường hợp tinh hoàn không xuống bìu thì phải mổ hạ tinh hoàn trước 4 tuổi.
Tất cả nam giới, nhất là thanh niên phải biết cách tự kiểm tra tinh hoàn của mình. Khi thấy có dấu hiệu bất thường như tinh hoàn bên này to hơn bên kia và cảm thấy nặng ở bìu, vướng, đau thì phải đi khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa tiết niệu ngay.
Tất cả bệnh nhân ung thư tinh hoàn đã được điều trị phải có kế hoạch theo dõi chặt chẽ, phát hiện kịp thời khi bệnh tái phát.
Những thành tựu mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư tinh hoàn cộng thêm ý thức biết phát hiện bệnh sớm trong cộng đồng, chắc chắn bệnh ung thư tinh hoàn không còn là nỗi kinh hoàng của nam giới nữa
Continue Reading | nhận xét

Bệnh ung thư bàng quang: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Ung thư bàng quang là loại ung thư đường tiết niệu thường gặp nhất và chiếm khoảng các loại ung thư. Tuổi thường gặp là 50 – 70 tuổi, nam gấp đôi nữ. Triệu chứng sớm nhất là có máu mà không đau.
Ung thư bàng quang thường bắt đầu từ bề mặt của bàng quang, cơ quan có hình quả bóng nhỏ trong khung chậu nơi chứa đựng nước tiểu. Một vài ung thư bàng quang vẫn còn khu trú ở bề mặt, trong khi các trường hợp khác có thể xâm lấn những khu vực khác.
Hầu hết những người mắc ung thư bàng quang là những người già – trên 90% các trường hợp xảy ra ở người trên 55 tuổi, và 50% những trường hợp này trên 73 tuổi. Hút thuốc lá là nguy cơ đơn lẻ gặp nhiều nhất của ung thư bàng quang. Phơi nhiễm với thuốc hoặc những chất độc hóa học nhất định cũng có khả năng phát triển ung thư bàng quang.

I. TRIỆU CHỨNG BỆNH UNG THƯ BÀNG QUANG:

Ung thư bàng quang thường không có những dấu hiệu và triệu chứng khi ở giai đoạn sớm. Dấu hiệu cảnh báo đầu tiên là thường có máu trong nước tiểu (đái máu). Máu có thể thấy ở xét nghiệm nước tiểu, hoặc nước tiểu của bạn có thể xuất hiện màu đỏ đậm hơn bình thường.

Điều này không có nghĩa nhất thiết bạn mắc ung thư bàng quang, tuy nhiên, nhiều trường hợp thông thường khác – bao gồm nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bệnh thận, sỏi thận hoặc bàng quang, và các bệnh tuyến tiền liệt – có thể gây ra đái máu. Những tình trạng này cũng có thể gây ra những triệu chứng khác tương tự như ung thư bàng quang. Nếu bạn có bất kỳ những dấu hiệu hoặc triệu chứng nào dưới đây, bác sỹ của bạn có thể giúp bạn xác định chính xác nguyên nhân.
-    Đau khung chậu
-    Đau trong khi đi tiểu
-    Đi tiểu thường xuyên hoặc cảm thấy cần đi tiểu mà không kiểm soát được
-    Dòng nước tiểu bị chậm lại

II. NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ BÀNG QUANG:

+ Do Tâm hỏa không chuyển nhiệt được xuống Tiểu trường hoặc do thấp nhiệt rót xuống dưới Bàng quang gây nên.
+ Do Thận hư không khí hóa được, thủy thấp không hóa đi được, ứ tích lại thành độc, thấp độc hóa thành nhiệt dồn xuống Bàng quang gây nên.
+ Yếu tố di truyền từ gia đình
Những yếu tố nguy cơ
Mặc dù các nhà khoa học chưa biết chắc chắn nguyên nhân gây ung thư bàng quang, họ xác định được một số yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của nó, do bản thân các yếu tố đó hoặc kết hợp với các yếu tố khác. Vì các chất hóa học thường đào thải ra khỏi cơ thể qua bàng quang, nhiều trong số những yếu tố nguy cơ này là có phơi nhiễm với các chất hóa học.
Có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ được liệt kê dưới đây không chắc chắn bạn sẽ phát triển ung thư bàng quang, mà chỉ làm tăng yếu tố nguy cơ của bạn. Biết về những yếu tố nguy cơ này có thể giúp bạn tạo ra những thay đổi có thể làm giảm nguy cơ của bạn, như không hút thuốc lá.
Hút thuốc. Hút thuốc biểu hiện như là một yếu tố nguy cơ lớn nhất, đơn lẻ của ung thư bàng quang. Đó là do các chất hóa học gây ung thư trong thuốc lá có thể tập trung trong nước tiểu của bạn và thậm chí làm tổn thương bề mặt của bàng quang. Tổn thương này có thể làm tăng cơ hội của các đột biến di truyền gây ung thư. Những người hút thuốc có khả năng mắc ung thư bàng quang cao hơn những người không hút thuốc ít nhất 2 lần. Nguy cơ tăng lên cùng với số lượng điếu thuốc hút trong 1 ngày và số năm mà bạn hút thuốc.
Các chất hóa học công nghiệp. Phơi nhiễm lặp đi lặp lại với các chất hóa học dùng trong sản xuất thuốc nhuộm, cao su, da, dệt và các sản phẩm sơn có thể tăng nguy cơ phát triển ung thư bàng quang nhiều năm sau đó.
Những người hút thuốc làm việc với các chất độc hóa học có nguy cơ đặc biệt cao của ung thư bàng quang.
Tuổi. Khả năng mắc ung thư bàng quang tăng lên khi bạn già đi. Tuổi trung bình của bệnh được chẩn đoán là 68 hoặc 69. Những người dưới 40 tuổi hiếm khi mắc bệnh.
Chủng tộc. Người da trắng có khả năng phát triển ung thư bàng quang gấp hai lần người da đen và người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Người châu á có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất.
Giới tính. Nam giới có khả năng mắc ung thư bàng quang gấp 4 lần nữ giới.
+ Do di truyền trong gia đình.

III. BIẾN CHỨNG CỦA UNG THƯ BÀNG QUANG:

Ung thư bàng quang có thể dẫn tới thiếu máu, đi tiểu không kiểm soát được và tắc niệu quản gây chặn dòng tiểu bình thường xuống bàng quang (ứ nước thận). Nhưng biến chứng nghiêm trọng nhất là di căn của ung thư tới các cơ quan khác.
Xét nghiệm:
Căn cứ chủ yếu:
+ Nam giới tuổi trên 50, nhiều lần tiểu ra máu.
+ Lấy nước tiểu 24 giờ hoặc tiểu lúc sáng sớm, tì m tế bào ung thư trong cặn lắng.
+ Chụp và soi bàng quang có thể xác định khối u to nhỏ, vị trí và làm sinh thiết xác định chẩn đoán.
+ Kiểm tra siêu âm. Các phương pháp kíểm tra cùng kết hợp bệnh sửvà triệu chứng lâm sàng để xác định chẩn đoán.

IV. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BÀNG QUANG:

Giống như nhiều người mắc ung thư, bạn có thể lựa chọn tham gia vai trò hành động trong các quyết định ảnh hưởng tới các chăm sóc y tế của bạn. Nếu thế, cố gắng biết nhiều trong khả năng của bạn về ung thư bàng quang và những khả năng điều trị của bạn. Khi là một phần của quá trình này, bạn cũng có thể xem xét đến khả năng xin ý kiến tư vấn của những chuyên gia về ung thư bàng quang như bác sỹ tiết niệu, ung thư nội khoa hoặc ung thư tiết niệu.
Cuối cùng, cách điều trị tốt nhất cho bạn sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại và sự phát triển của ung thư bàng quang, cũng như tuổi của bạn, sức khỏe chung của bạn. Dưới đây là một vài khả năng điều trị:
Phẫu thuật
Điều trị phẫu thuật thường là khả năng tốt nhất cho những người mắc ung thư bàng quang. Những quá trình phổ biến nhất gồm:
Cắt u qua niệu đạo. Thường được dùng để điều trị ung thư bàng quang bề mặt. Trong suốt quá trình cắt u qua niệu đạo, bác sỹ đưa ống soi – một dụng cụ với thấu kính đặc biệt và hệ thống ánh sáng – vào trong bàng quang của bạn qua niệu đạo. Ung thư được lấy bỏ bằng một vòng dây nhỏ và bất kỳ tế bào ung thư nào còn tồn tại sẽ được đốt cháy bằng dòng điện. Trong một vài trường hợp, laser năng lượng cao được dùng thay thế cho dòng điện. Bản thân cắt u qua niệu đạo gây ra một vài vấn đề bất lợi. Bạn có khả năng có máu trong nước tiểu hoặc đau khi đi tiểu một vài ngày sau quá trình phẫu thuật. Nhưng vì ung thư bàng quang thường tái phát lại, bạn sẽ cần gặp bác sỹ nội soi kiểm tra 3 đến 6 tháng 1 lần.
Cắt bàng quang bán phần. Quá trình này có thể là một khả năn lựa chọn khi u đ- xâm lấn 1 phần của thành bàng quang. Nó chỉ lấy bỏ phần bàng quang chứa tế bào ung thư. Để cắt bỏ u, phẫu thuật viên cần tạo một đường rạch trên bụng. Gây mê thông thường được dùng, và bạn thường ở lại bệnh viện 1 tuần đến 10 ngày. Tác dụng phụ chính của phẫu thuật này là đi tiểu thường xuyên. Mặc dù vấn đề thường là tạm thời, nó có thể trở thành vĩnh viễn ở một vài người.
Cắt bàng quang triệt căn. Bác sỹ có thể sử dụng phẫu thuật mở rộng này cho ung thư bàng quang xâm lấn hoặc ung thư bề mặt ảnh hưởng đến phần lớn bàng quang. Nó bao gồm cắt bỏ toàn bộ bàng quang cũng như hạch bạch huyết xung quang và một phần niệu đạo. ở nam, tuyến tiền liệt, túi tinh – nơi sản xuất dung dịch trong tinh dịch – và một phần của ống dẫn tinh cũng được lấy bỏ. ở nữ, cắt bàng quang triệt căn thường có nghĩa cắt bỏ buồng trứng, vòi trứng và một phần âm đạo.
Sau cắt bàng quang triệt căn, phẫu thuật viên có thể tạo 1 bàng quang mới cho bạn hoặc 1 cái túi – ở bên trong hoặc bên ngoài – để thu nước tiểu.
Cắt bàng quang triệt căn có thể làm thay đổi cuộc sống, ảnh hưởng không chỉ đến khả năng đi tiểu mà còn ảnh hưởng đến khả năng tình dục của bạn. Phụ nữ bị mất buồng trứng và vòi trứng không có khả năng mang thai và bắt đầu m-n kinh ngay lập tức. Ngoài ra, cắt bỏ 1 phần âm đạo khi phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động tình dục.
Trong quá khứ, phần lớn nam giới bị liệt dương sau cắt bỏ bàng quang triệt căn. Ngày nay, quá trình phẫu thuật mới có thể ngăn chặn vấn đề này ở một nhóm nam giới được lựa chọn. Mặc dù vậy, cắt bỏ tuyến tiền liệt và túi tinh có nghĩa tinh dịch không được sản xuất và tinh trùng không được giải phóng trong quá trình phóng tinh. Ung thư bàng quang thường xảy ra ở nam sau nhiều năm hoạt động tình dục, nhưng một vài người có cắt bỏ bàng quang sớm trong cuộc đời lựa chọn gửi tinh trùng vào ngân hàng trước phẫu thuật. Những người khác có thể sau này quyết định thực hiện quá trình lấy tinh trùng từ tinh hoàn.
Điều trị tia xạ
Điều trị này dùng tia X năng lượng cao để phá hủy tế bào ung thư và thu nhỏ u. Nó thường được dùng nhất sau phẫu thuật để loại trừ những tế bào ung thư vẫn còn sót lại. Khi không có khả năng phẫu thuật, thỉnh thoảng tia xạ được dùng thay thế, nhưng nó kém hiệu quả hơn phẫu thuật.
Trong điều trị ung thư bàng quang, tia xạ có thể từ bên ngoài cơ thể (xạ ngoài) hoặc từ các chất phóng xạ được đặt trực tiếp vào trong bàng quang của bạn (xạ trong).
Xạ ngoài thường được thực hiện trong điều trị ngoại trú, 5 ngày 1 tuần trong vòng 5 đến 7 tuần.
Bạn có thể thấy mệt mỏi trong suốt quá trình xạ trị, đặc biệt là những tuần điều trị cuối. Xạ ngoài có thể làm cho da của bạn trở nên đỏ, yếu và ngứa – cũng như khi bạn phơi nắng. Phụ nữ cũng có thể bị khô âm đạo, và nam giới có thể bị liệt dương. Xạ trị cũng có thể gây ra đi tiểu và đi ngoài không kiểm soát, liệt dương ở nam và kích thích trực tràng dẫn đến ỉa chảy. Những tác dụng phụ này thường là tạm thời. Trong thời gian này, bác sỹ của bạn có thể đánh giá đo lường để làm cho chúng có thể kiểm soát được.
Điều trị hóa chất
Điều trị hoá chất là dùng các thuốc để phá hủy tế bào ung thư. Bác sĩ của bạn có thể đề nghị điều trị hóa chất sau phẫu thuật để phá hủy những ổ ung thư nhỏ còn sót lại, nhưng đôi khi cũng có thể điều trị trước phẫu thuật trong cố gắng bảo tồn bàng quang.
Trong nhiều trường hợp, 2 hoặc nhiều thuốc được dùng kết hợp. Đôi khi, chúng được đưa trực tiếp vào trong bàng quang qua niệu đạo-quá trình được gọi là điều trị nội bàng quang. Điều trị này thường được dùng sau cắt u qua niệu đạo để giúp ngăn chặn ung thư bề mặt tái phát. Bạn có khả năng điều trị nội bàng quang 1 đến nhiều tuần.
Điều này không có khả năng áp dụng nếu tế bào ung thư thâm nhập sâu vào trong thành bàng quang hoặc di căn tới các cơ quan khác. Trong trường hợp đó, thuốc hóa chất được đưa vào bằng đường tĩnh mạch để chúng có thể theo dòng máu tới tất cả các phần của cơ thể (hóa chất toàn thân). Điều trị này được thực hiện nhiều chu kỳ, tạo cơ hội cho cơ thể bạn phục hồi giữa các lần điều trị.
Thậm chí, tác dụng phụ của hóa chất-rụng tóc, buồn nôn, nôn và mệt mỏi – có thể nghiêm trọng. Nó xảy ra do hóa chất ảnh hưởng đến các tế bào lành – đặc biệt các tế bào phát triển nhanh trong đường tiêu hóa, tóc và tủy xương-cũng như các tế bào ung thư. Không phải tất cả mọi người đều có tác dụng phụ này, tuy nhiên, ngày nay có nhiều cách tốt hơn để kiểm soát chúng nếu xảy ra.
Hóa chất toàn thân cũng có thể làm giảm số lượng tế bào bạch cầu và hồng cầu của bạn, làm bạn tạm thời dễ bị nhiễm khuẩn và xuất huyết. Ngoài ra, một vài thuốc dùng để điều trị ung thư bàng quang có thể gây tổn thương thận. Để giúp ngăn ngừa các vấn đề về thận, bạn có thể được truyền nhiều dịch trong suốt quá trình điều trị và khuyên uống nhiều dịch.
Điều trị sinh học
Điều trị miễn dịch kích thích hệ thống miễn dịch của bản thân cơ thể bạn chống lại ung thư. Nó thường được dùng sau cắt u qua niệu đạo để giúp ngăn ngừa ung thư bàng quang bề mặt tái phát. Trực khuẩn BCG (Bacille Calmette-Guerin), một vi khuẩn được dùng trong văc-xin phòng lao, chất kích thích miễn dịch thường được sử dụng nhất. Khi vào trong bàng quang của bạn, vi khuẩn gây ra phản ứng ức chế sự hình thành và phát triển của u. BCG được đưa trực tiếp vào trong bàng quang qua một ống nhỏ, mềm (ống thông) trong 2 giờ, mỗi tuần một lần. Điều trị có thể kéo dài 6 đến nhiều tuần.
Trong suốt quá trình điều trị BCG, bạn có thể có phản ứng bàng quang hoặc máu trong nước tiểu và cảm thấy như là bị cúm. Bác sĩ của bạn có thể gợi ý một vài phương pháp y học để giúp giảm một vài dấu hiệu và triệu chứng này. Nếu bạn bị sốt cao kéo dài, không đáp ứng với các thuốc giảm đau, h-y nhanh chóng đến gặp bác sĩ của bạn để điều trị. Điều này có thể chỉ ra rằng nhiễm khuẩn BCG đ- lan rộng, có thể nghiêm trọng.
Những điều trị khác
Những điều trị chuẩn cho ung thư bàng quang thường có thể không hiệu quả, hoặc bạn có thể có một vài tác dụng phụ. Trong trường hợp đó, nhiều điều trị khác có thể được dùng. Một khả năng đó là điều trị ánh sáng chức năng.
Quá trình điều trị này gồm hai phần giúp phá hủy tế bào ung thư bàng quang. Ban đầu, bạn được tiêm hóa chất được thu hút bởi tế bào ung thư nhưng không được thu hút bởi tế bào lành. Những tế bào chứa hóa chất sau đó được tiếp xúc với ánh sáng laser, giết chết hoặc làm tổn thương nghiêm trọng tế bào.
Điều trị ánh sáng chức năng có thể gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng, như nhiễm khuẩn bàng quang mạn tính, hẹp bàng quang và nhạy cảm với ánh sáng kéo dài. Mặc dù có nhiều triển vọng, phương pháp này cũng chỉ được thực hiện ở một số trung tâm ở một số nước và cần có nhiều nghiên cứu trước khi nó được điều trị thường quy.
Phục hồi cấu trúc bàng quang
Trong cắt bàng quang triệt căn, bàng quang của bạn được cắt bỏ toàn bộ. Sau đó ngay lập tức phẫu thuật viên tái tạo lại hệ tiết niệu để bạn có thể thải nước tiểu hiệu quả. Có nhiều khả năng tái tạo bàng quang. Cách tốt nhất cho bạn phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm sức khỏe chung, sự lan rộng của ung thư. Trong tất cả các trường hợp, mục đích là duy trì chất lượng cuộc sống càng nhiều càng tốt. Một vài quá trình tái tạo bao gồm:
ống dẫn nước tiểu. Đây là phẫu thuật đơn giản nhất với ít nguy cơ biến chứng nhất. Nó tiến hành cô lập một đoạn ruột non của bạn và gắn 1 đầu vào niệu quản. Đầu kia được nối mở ra ngoài ở phần thấp của ổ bụng qua một ống dẫn nước tiểu vào trong một túi nhỏ. Bạn mang túi đó bên ngoài cơ thể và đổ nó 3 đến 4 lần một ngày. Buổi tối bạn có thể sử dụng túi lớn hơn cho phép bạn ngủ qua đêm.
Lỗ thoát có thể đưa ống thông vào. Loại phục hồi này không cần dùng đến túi. Thay vào đó, phẫu thuật viên sẽ tạo nên một túi nhỏ có khả năng chứa được 3 đến 4 tách nước tiểu. Bạn đổ nước tiểu đi từ túi nhiều lần trong một ngày bằng cách dùng ống thông. Bởi vì kích thước của túi không thay đổi, bạn phải đổ nước tiểu trong cả ban đêm.
Bàng quang mới. Trong quá trình phục hồi này, phẫu thuật viên đúng là đ- tạo lại một bàng quang. Điều này được hoàn thành bằng cách nối một túi tương tự dùng trong phương pháp lỗ thoát có thể đưa ống thông vào với một ống để đưa nước tiểu khỏi cơ thể bạn (qua niệu đạo). Kết quả là bạn có thể thải nước tiểu mà không cần mở ra bên ngoài, mặc dù bạn có thể cần một ống thông đưa vào trong niệu đạo. Tái tạo bàng quang mới không có khả năng thực hiện nếu một phần hoặc toàn bộ niệu đạo của bạn đ- bị cắt bỏ, và nó có thể dẫn tới một số biến chứng, bao gồm sẹo, rỉ nước tiểu và tiểu tiện không kiểm soát được.
PHÒNG BỆNH UNG THƯ BÀNG QUANG:
Mặc dù ung thư bàng quang thường không phòng tránh được, bạn có thể thực hiện những bước dưới đây để giúp làm giảm nguy cơ:
Không hút thuốc. Không hút thuốc có nghĩa rằng những chất gây ung thư trong khói thuốc không thể tập trung trong bàng quang.
Cẩn thận với những hóa chất và nguồn nước mới. Nếu bạn làm việc với hóa chất, thực hiện tất cả những hướng dẫn an toàn để tránh phơi nhiễm. Nếu bạn có giếng nước riêng, bạn có thể muốn xét nghiệm để kiểm tra hàm lượng cao thạch tín trong nước.
Uống nhiều dịch. Uống dịch, đặc biệt là nước, làm lo-ng những chất độc có thể tập trung trong nước tiểu và đưa chúng ra khỏi bàng quang nhanh chóng.
Học cách ưa thích bông cải xanh. Nghiên cứu 10 năm được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tại trường sức khỏe cộng đồng Harvard chỉ ra rằng ăn nhiều rau họ cải, như bông cải xanh và bắp cải, có thể làm giảm nguy cơ ung thư bàng quang ở nam. Mặc dù ăn nhiều rau tươi và quả là quan trọng với sức khỏe chung, chỉ bông cải xanh và bắp cải dường như có ảnh hưởng giảm nguy cơ ung thư bàng quang. Các bác sỹ Harvard chỉ nghiên cứu ở nam, và kết quả đó không biết liệu có đúng ở nữ.
Tập trung phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe. Nếu thấy máu trong nước tiểu, h-y đến gặp bác sỹ.
Kỹ năng
Sống cùng với ung thư không bao giờ là dễ dàng. Nhưng làm giảm những ảnh hưởng tới cơ thể của ung thư bàng quang và những biện pháp điều trị nó có thể đặc biệt khó khăn. Điều này đặc biệt đúng nếu bạn có một ống dẫn nước tiểu hoặc túi nước tiểu. Bạn có thể băn khoăn về những thay đổi trong cơ thể bạn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, mối quan hệ và hoạt động tình dục của bạn như thế nào.
Nó có thể giúp để biết việc mang ống dẫn nước tiểu hoặc túi nước tiểu không có nghĩa bạn không thể hoạt động hoặc sống bình thường. Những túi đó nhỏ, kín đáo dưới quần áo và không bị rỉ. Bạn cũng có thể làm việc, du lịch, luyện tập và thậm chí cả bơi.
Những gợi ý dưới đây có thể giúp bạn:
Tìm cách làm cho cuộc sống dễ dàng hơn. Nếu bạn đi tiểu không kiểm soát hoặc cần thay túi nước tiểu, cố gắng ngồi phía cuối của rạp hát, phòng hòa nhạc hoặc phòng họp. Bằng cách đó bạn có thể kín đáo nếu cần đi vào nhà vệ sinh. Ngồi hàng ghế giữa trên máy bay hoặc tàu. H-y nghỉ ngơi khi có kế hoạch du lịch, tham quan dài.
Chia sẻ mối quan tâm của bạn với người khác. Khi bạn cảm thấy sẵn sàng, h-y nói chuyện với người mà bạn tin cậy về mối quan tâm của bạn. Có thể với bạn bè, thành viên trong gia đình, bác sỹ, nhân viên x- hội, nhà tư vấn. Bạn cũng có thể thấy hữu ích khi nói chuyện với những người khác mắc ung thư bàng quang. Họ có thể nói cho bạn cách rèn luyện những vấn đề tương tự mà bạn phải đối mặt.
Continue Reading | nhận xét
/

Mẹ và Bé

Sức khỏe sinh sản

BỆNH GOUT

hoanghieu.come.vn
 

Copyright © 2011. VUHOANGHIEU.TK - All Rights Reserved
Template Modify by vuhoanghieu Inspired
Proudly powered by